Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Làng nghề. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 17 tháng 5, 2011

Cuối tuần với chợ Chuông

Mỗi phiên chợ làng Chuông rơi vào thứ 7 hay chủ nhật, là tôi lại í ới bạn bè xách máy ảnh lên đường.

Chợ làng Chuông đã trở nên quen thuộc với nhiều tay máy từ nghiệp dư đến chuyên nghiệp của Hà Nội, bởi ở đó, người ta tìm thấy những khuôn hình đẹp của một làng quê thanh bình, làng nghề vẫn giữ những nét riêng truyền thống... Và bởi thứ không khí nhẹ nhàng mà phố thị không có được trong suốt một tuần mệt mỏi và hối hả bởi áp lực công việc và cuộc sống.

Chợ làng Chuông thì sáng nào cũng họp, vì đó là phiên chợ mỗi ngày của xã Phương Trung, huyện Thanh Oai thuộc tỉnh Hà tây (cũ), nay đã là chợ quê của Hà Nội. Nhưng chợ nón làng Chuông thì chỉ họp 6 phiên một tháng, vào các ngày âm lịch có đuôi tận cùng là 4 và 0. Thỉnh thoảng giật mình nhìn lên đốc lịch, tôi lại thấy trong lòng háo hức nếu chợt nhận ra ngày phiên chợ.

Chợ Chuông gần lắm, cách trung tâm Hà Nội chưa đầy 30km, chỉ có điều phiên chợ nón họp sớm, 6g sáng chưa tỏ mặt người đã nghe lao xao nói cười, chộn rộn cả đình làng Chuông, chộn rộn mọi ngõ ngách xóm nhà hay tiếng người vọng xa vọng gần trên con đê sông Đáy.

Cuối tuần có phiên chợ nón, tôi thường thức dậy lúc 5g, hẹn bạn đồng hành ở cầu Hà Đông, rồi chạy xe long rong qua thị xã đang cựa mình thức giấc. Những chiếc xe máy, xe thồ ngược chiều chở đầy thực phẩm từ ngoại thành vào phố, cắm cúi, vội vàng. Thấy hạnh phúc khi cuộc sống bận rộn mà mình vẫn sắp xếp được thời gian đi rong, được thỏa mãn thú vui đi lại, thú vui chụp ảnh..

Tôi thích leo lên gác chuông ngồi ngắm người dưới chợ đi qua đi lại, trao đổi, mua bán, mặc cả, ngó nghiêng. Cũng không quên ghé qua quán nước dưới gốc đa làng để mang theo lên một ấm trà và dăm ba cái chén, vừa uống vừa chuyện phiếm với bạn bè. Từ trên cao nhìn xuống, thấy lòng hân hoan một cảm giá khó tả.

Này nhé, sân chùa đầy các mẹ, các chị với những chồng lá nón cao ngất ngưởng, ấy thế mà chỉ 2 tiếng sau thôi, đã thấy rất nhiều người dọn hàng đi về tự bao giờ. Xe đạp dựng ngổn ngang, ai cũng tíu tít bận rộn với vội vàng. Quanh ao làng, người cũng ngồi đông chen chúc, ai mua ai bán, ai chọn hàng đẹp, ai nài hàng xấu... tôi không nhận ra, nhưng thấy cuộc sống giản dị ấy cứ chảy trôi, chảy trôi quá đỗi nhẹ nhàng.

Phía bờ đê, người làng hay bán hoa, bán rau lẫn với bán mo cau. Vì là phiên chợ nón, nên nguyên liệu nón đâu đâu cũng thấy: là lá, là mo, là khuôn nón, vòng nón, chỉ lồng nhôi rực rỡ sắc màu, chỉ cước trắng tinh, đỏ tươi lấp lánh…

Người ở gần tới chợ Chuông để mua nguyên liệu về khâu nón thành phẩm, đến phiên chợ sau lại có hàng mang ra bờ sông Đáy, giao cho người buôn xa đi về khắp các tỉnh thành. Đâu đâu cũng đông vui, náo nhiệt và rộn ràng.
Đầu cổng chợ, là nơi bán nón thành phẩm. Ngay cạnh đó có một hẻm nhỏ toàn các cụ già trao đổi mua bán vòng nón đã quây và các thanh vòng mới vót.

Chỗ bán nón thành phẩm lúc nào cũng đông và ấm sực vì người đông vô kể. Các bà, các chị đi bán nón nhiều khi cứ phải cầm cả chồng giơ lên cao trên đầu để đi xuyên qua đám đông đang say sưa chọn hàng và mặc cả, nài giá. Đám con buôn cứ chắp tay đeo túi đi vòng vòng, xem xét hàng rồi thủng thẳng trả giá, trả được giá thì gom hàng vào một chỗ, chờ vãn chợ là xếp và quấn thành một chồng dài, cho lên xe kĩu kịt đi tới bến ô tô, nhanh chóng tỏa đi khắp chốn.
Chợ nón vãn người sau chừng 2g họp chợ, tôi lại lững thững quay lại sân chùa Chuông, lúc này chỉ còn sót lại một vài người đang ngồi cố bán những chùm lá nón cuối cùng, có những cụ bà hỉ hả lần tiền trong bao tượng ra đếm, có những chị gái tranh thủ dọn nốt hàng xếp lên chiếc xe đạp cũ để về nhà… Ai cũng mộc mạc, dễ gần, và câu chuyện về cuộc sống nở ra khi bạn bắt lời…

Mỗi cuối tuần đúng phiên chợ Nón làng Chuông, tôi lại muốn được về chốn ấy, được nhìn những mảnh cuộc sống dịu êm, được trò chuyện với những người phụ nữ tảo tần và hồn hậu, được uống chén chè chát trên gác chuông tam quan, hay dạo bước qua những gian hàng ồn ào rộn rã…

Du lịch, GO! - Theo TTO

Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2011

Một sớm trên bãi biển Cam Bình

Khoảng hơn chục năm trở lại đây, địa danh Bãi biển Cam Bình (thị xã La Gi) trở thành điểm du lịch có sức hấp dẫn vì cảnh quan sinh thái của một rừng dương xanh phủ tràn ngập bóng mát và một bãi cát trắng lóng lánh đầy nắng vàng.

Từ lâu, bãi biển Cam Bình đã nổi tiếng hoang sơ với rừng dương bát ngát, cát trắng lấp lánh dưới nắng, sóng biển vỗ nhẹ, lý tưởng cho việc tắm biển, chơi trò chơi hay cắm trại. Không những vậy, việc đánh bắt gần bờ bằng mủng của ngư dân xã Cam Bình cũng cung cấp cho khách du lịch đến nơi này nhiều loại hải sản tươi ngon, đặc biệt là loại cá đục có vẩy màu vàng, non ngón tay, nướng chấm mắm me cũng ngon mà làm gỏi cũng ngọt.

Khách du lịch khá quen thuộc với những thức ăn hải sản được chế biến một cách dân dã, tươi rói hương vị miền biển. Nồi cháo cá hanh hành ngò béo ngậy, lò than hồng thơm lừng những con cá đục, mực,ghẹ…

Bởi ngay trên bãi ngang này tự dưng định hình một làng nghề biển hiếm thấy bởi chỉ toàn những thuyền thúng chài lưới ven bờ, có đến bốn trăm thuyền thúng ở đây. Ngày trước, nghề này là loại thúng chai bằng tre nang, trét dầu rái, mũ cây chai rừng và bột xảm …

Hàng loạt chiếc thúng đường kính 2- 2,5 mét, tròn vành nằm phơi trên bờ cát trắng và ngoài biển sóng nhấp nhô những chiếc thúng tựa như nốt nhạc trên dòng âm thanh rì rào của biển cả. Có thúng không phải dùng dầm bơi như trước nữa mà gắn một máy kô-le khoảng 0,65 sức ngựa, đủ sức cưỡi sóng thong dong.

Theo chỉ dẫn của những ngư dân nghề thúng, tôi tìm đến nhà của một người đã góp phần làm cuộc “cách mạng” từ chiếc thuyền thúng chai đan tre thô sơ xưa cũ để sản xuất hàng trăm sản phẩm thuyền thúng với chất liệu công nghệ “hiện đại” hơn. Đó là anh Lê Văn Nam, chủ cơ sở sản xuất và cũng là nhà ở của anh trên mảnh vườn gần một mẫu, thuộc thôn Mũi Đá, xã Tân Phước (La Gi), không xa mấy với bãi biển Cam Bình.
Nhà xưởng làm thúng đang có trên trăm chiếc, có chiếc đang công đoạn hoàn thiện có chiếc chờ khách mua đến nhận hàng. Khách hàng của anh không những ở La Gi để theo thuyền tàu lớn ra khơi câu mực, mà còn bán ra Phan Thiết, Bình Châu. Mùi hợp chất composite, vải bạc sợi nhựa… làm nên cái không khí miệt mài khá bài bản. Anh Nam đã trả giá bằng công của cả năm trời mày mò mới được như ngày hôm nay. Nhìn thấy những chiếc thúng thành phẩm chưa xuất xưởng cũng như hàng trăm chiếc đang hành nghề đều một màu xanh dương nước biển, anh Nam nói để hoà với không gian đại dương và dịu dàng hơn, nên trở thành thương hiệu thuyền thúng Văn Nam. Cho nên bây giờ tên gọi thúng chai bằng nguyên liệu tre nang không còn nữa. Hỏi ra với số tiền 3 hoặc cao nhất 5 triệu đồng, với những gia đình làm nông kết hợp nghề biển ven bờ thì có khả năng sắm được.

Những ngư dân thuyền thúng ở đây đều sống bằng nghề nông, mà thuyền thúng là loại nghề “nông nhàn”, nhưng dần dần có người sống được và lấy làm nghề chính sống theo khu du lịch này. Hôm tôi đến, đó là buổi sáng cuối năm, biển êm vừa đang giờ thuyền vào bờ. Những tay lưới giũ ra đầy những con cá hố, cá hanh lẫn cùng ghẹ, tôm, mực…Một ngư dân với giọng quê Quảng Trị, nói có hôm may mắn cũng kiếm được 5-6 triệu đồng và khi gặp sóng to, khi biển động chỉ vài ba trăm ngàn….nhưng bù được cho khoảnh lúa èo uột trên đất ruộng vùng cát bạc màu. Đây đó những chiếc xe bò một, hoà nhập với cảnh rộn ràng bờ biển để tải những chiếc thuyền thúng lên bờ, thay vì trước đây phải 5- 6 người hì hục gồng vai khiêng đẩy.

Phần đông dân cư địa phương là người quê Quảng Trị. Họ kể lại từ năm 1972, mùa hè đỏ lửa, chế độ cũ đưa cả làng Cam Lộ, Gio Linh…vào định cư vành đai tỉnh lỵ Bình Tuy sống đến nay, rồi coi đây là quê hương của mình. Do vậy mà có tên Cam Bình là từ chữ Cam Lộ ghép với Bình Tuy. Gia đình anh Lê Văn Nam, chủ cơ sở sản xuất thuyền thúng là một hình ảnh thu nhỏ cái gian khổ, sự cật lực và ý chí vươn lên của người dân bỏ làng quê, đi lập nghiệp.

Năm nay anh Nam 47 tuổi nhưng vợ chồng anh đã có 6 người con, anh kể theo cha mẹ vào đây, cũng như nhiều gia đình cùng cảnh ngộ di dân, có thể nói là hai bàn tay trắng. Vậy mà anh nuôi được 5 đứa con đang học cao đẳng, đại học còn lại 1 đứa đang học lớp 12 THPT. Trong bà con xóm Mũi Đá – Cam Bình, cũng có nhiều người như anh Châu, anh Từ, anh Ngà …đã từ cái khổ rồi nay có được một cơ ngơi cuộc sống ổn định và con cái trưởng thành, khác với cái thời vất vả của các anh ngày nào.

Dọc dài bãi biển êm ả này hiện có gần 20 dự án du lịch với loại hình nghỉ dưỡng, resort và một khu du lịch Cộng đồng, cặp theo con đường nhựa rộng chạy xuống trung tâm thị tứ La Gi không đầy 4 cây số, nhưng nay các dự án này vẫn chưa có gì để gọi là chuyển động kể cả khu qui hoạch du lịch Cộng đồng lẽ ra là đòn bẩy tác động, vì vướng mắc chuyện đền bù, giải toả bị kéo rê từ nhiều năm nay.

Dự án đợi chính quyền, dân chờ dự án, đất vàng hoá đất hoang…may mà còn một xóm bãi ngang thuyền thúng với những chiếc quán mái hờ nép dưới bóng dương xanh, để có một địa danh Cam Bình thi vị và triển vọng. Nhưng có điều nhiều người băn khoăn không biết nay mai hàng trăm chiếc thuyền thúng này sẽ đi về đâu. Không những đó là một nghề sống của dân địa phương mà còn là cái chợ hải sản tự phát nho nhỏ tạo nguồn ẩm thực dân dã ngon tươi và một hình ảnh làng nghề trong ký ức của khách du lịch đến đây.

Du lịch, GO! - Theo Lagitoday

Thứ Ba, 19 tháng 4, 2011

Đặc sản Trà Ôn

Trà Ôn là vùng đất màu mỡ, trù phú của tỉnh Vĩnh Long, với sông sâu nước chảy, nhân dân lao động cần cù chịu khó, nên nơi đây có nhiều sản vật, đặc sản cũng như những làng nghề truyền thống nổi tiếng.

Tôm càng xanh là một đặc sản của người dân Vĩnh Long ở ven bờ sông Hậu. Người dân ven bờ thường chất chà ở những “búng” hoặc những nơi có dòng nước chảy mạnh để bắt tôm càng xanh.

Tôm càng ngon nhất là nướng tươi trên bếp than hồng. Đốt một lò than đước, đặt vỉ lên và gắp từng chú “tôm” cho lên vỉ trở đều. Mùi thơm của tôm nướng tỏa ra trong không gian đủ làm kích thích người ta tiết ra dịch vị.

Khi nướng, những con tôm từ từ đổi sang màu hồng, rồi đỏ au, sau cùng sem sém lửa là lúc tôm đã chín. Bỏ vỏ, bỏ đầu, lõi tôm chắc nịch sẽ hiện ra. Bạn cứ thế cầm, chấm vào chén muối tiêu chanh rồi từ từ thưởng thức. Vị béo của gạch, vị ngọt của thịt tôm hòa với vị mặn của muối, vị cay của tiêu, vị chua của chanh lan tỏa nơi đầu lưỡi khiến bạn chỉ muốn... tôm đừng vơi đi.

Trà Ôn còn có một đặc sản rất nổi tiếng ấy là cam xoàn. Cam xoàn cùng một họ với cam mật, dễ trồng. Cây sinh trưởng và phát triển mạnh, thích nghi với vùng đất cao ráo thoát nước tốt. Cam xoàn ruột vàng, vị ngọt thanh hơn quít, trái to, cây từ 3 năm tuổi trở lên có trái quanh năm. Ẩm thực địa phương

Đặc điểm của cam xoàn là trái càng nhỏ thì vị càng ngọt thanh, có mùi thơm nhẹ, múi dẽ so với các loại cam sành, cam mật. Khách có thể mua cam xoàn cùng với những đặc sản nổi tiếng khác như cam sành, bưởi Năm Roi, măng cụt, chôm chôm, xoài cát... với giá cả phải chăng tại chợ Trà Ôn hoặc các sạp trái cây nhỏ dọc đường. Tuy nhiên, để chọn đúng loại cam này, bạn cần nhớ đặc điểm của quả cam là dưới đít trái cam xoàn chánh gốc luôn có dấu tròn như đồng xu, hơi lõm.

Ngoài cam xoàn, còn có bánh tráng nem ở cù lao Lục Sĩ Thành khách hay mua mang về làm quà. Sản xuất bánh tráng nem trước kia người ta chỉ dùng gạo lúa mùa, hiện nay được thay thế bằng loại gạo chất lượng cao. Bánh tráng Tân Thạnh thường ăn kèm cá lóc nướng trui kẹp thịt ba rọi, rau thơm, hoặc dùng cuốn thịt tôm nướng hay gói bò nhúng giấm.

Theo Socbaytravel

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2011

Lên Bình Dương... không chỉ ngắm gốm

Gốm Bình Dương không chỉ gắn với nghề truyền thống có từ trăm năm trước mà còn nghề đang ăn nên làm ra. Cách TP Hồ Chí Minh chưa tới 30km, làng nghề gốm đã trở thành điểm đến của những người ưa thích khám phá, mê cái nghề “biến cục đất vô tri thành sản phẩm có hồn”.

Nghề gốm Bình Dương gắn với lịch sử phát triển vùng đất Sài Gòn-Gia Định. Theo những người dân địa phương lớn tuổi, gốm Bình Dương xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ 19 tại Tân Phước Khánh, Lái Thiêu, Chánh Nghĩa... Tương truyền nghề gốm ngày xưa được người Hoa ở Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông sang định cư tại đất Thủ (một cách gọi cho thị xã Thủ Dầu Một-Bình Dương) và hình thành nên nghề gốm mang đặc trưng của từng vùng. Gốm kiểu Quảng Đông phong thái trang nhã, sử dụng men trang trí; kiểu Phúc Kiến đơn giản hơn, thường là các vật dụng có màu tối; gốm Triều Châu chủ yếu là màu men xanh trắng, hình ảnh phong cảnh sơn thủy hữu tình, con vật...

Phần lớn trong số hơn 500 lò gốm hiện đang hoạt động ở địa phương là nghề cha truyền con nối của người Hoa, một số ít còn lại là của người Việt bản địa. Có những lò gốm tuổi ngót 1,5 thế kỷ.

Từ xưa, gốm Bình Dương đã theo các con sông lớn, kinh rạch đổ đi khắp nơi ở khu vực miền Đông sang Tây Nam bộ và nổi tiếng khắp vùng. Gốm Bình Dương hiện đã thay đổi nhiều về kỹ thuật, mẫu mã để thích ứng với thị trường. Nhiều thương hiệu gốm được khẳng định như: Minh Long, Hiệp Ký, Nam Việt, Minh Tâm, Cường Phát...

Tham quan vùng đất được xem là cái nôi nghề gốm này, du khách không khỏi thán phục tài nghệ khéo léo của các nghệ nhân và óc sáng tạo của người làng nghề.

Đứng đầu phải kể đến thương hiệu Minh Long. Đây là gia đình truyền thống làm gốm ở đất Thủ. Gốm Minh Long ở Bình Dương mang sắc thái riêng, giá trị cao hơn vượt khỏi ranh giới quốc gia sang nhiều nước trên thế giới...


Dù đã sản xuất theo hướng công nghiệp nhưng trong tâm khảm của các nghệ nhân làng nghề, của người đất Thủ vẫn âm vang câu ca dân gian gắn với bao đời nay:

“Ai về chợ Thủ bán hũ, bán ve
Bán bộ đồ chè, bán cối đăm tiêu...”

Nghề đã gắn với đất và người nên làm gốm như là sự sống, huyết quản của người Bình Dương. Những làng gốm hiện trở thành sản phẩm du lịch độc đáo của vùng đất này. Rất nhiều du khách đến Bình Dương để được hiểu về cuộc sống làng nghề, tìm hiểu văn hóa, lịch sử của nghề gốm. Các nghệ nhân đất Thủ đã tạo nên những tuyệt tác lập kỷ lục Việt Nam, với cúp Sen Vàng, cúp Hồn Việt, chén ngọc Văn Lang, quốc bình Thăng Long, lu Thiên Địa, đèn gốm, địa cầu. Thăm những cơ sở sản xuất gốm, du khách đứng ngắm mãi, quên cả thời gian bởi vẻ đẹp của nước men và các hoa văn, họa tiết tinh xảo mang bản sắc dân tộc Việt Nam.

Đến thị xã Thủ Dầu Một-Bình Dương, du khách không chỉ ngắm gốm mà còn ghé vườn trái cây Lái Thiêu và tham gia những chuyến du lịch xanh với nhiều chương trình thú vị; thăm miếu thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu (hay còn gọi là Chùa Bà Bình Dương. Nơi đây là điểm đến tâm linh diễn ra nhiều hoạt động văn hóa nhất là vào dịp Tết Nguyên tiêu. Miếu còn nhiều vật dụng, lư hương, gạch... làm từ gốm xưa của Bình Dương. Khi xác định tuổi của làng nghề truyền thống này, nhiều nhà khảo cổ dựa vào năm xây dựng ngôi miếu.

Bình Dương còn có khu du lịch Đại Nam nổi tiếng với nhiều điểm tham quan, trò chơi giải trí phong phú. Trong khu du lịch có vườn thú mang nét độc đáo riêng vì sở hữu được loài hổ trắng quý hiếm cùng nhiều loài thú khác được mang về từ khắp nơi trên thế giới... Đến đây, du khách đến quán cà phê WnW (Gió và Nước) với kiến trúc thân thiện: một mái nhà hình chiếc nấm được sử dụng tre, gỗ, xung quanh lợp và dừng tranh trông như một ụ rơm khổng lồ nổi trên mặt nước; sảnh cà phê được cất từ tre lá nhưng vẫn toát lên vẻ sang trọng.

Theo báo Cần Thơ

Thứ Sáu, 25 tháng 3, 2011

Phù Lãng, hoa trên đất

Chỉ mất một tiếng đồng hồ đi xe, bạn vừa có thể tranh thủ du lịch, ngắm cảnh ở làng Phù Lãng, Bắc Ninh, vừa có cơ hội mua sắm những đồ gốm trang trí xinh xắn cho tổ ấm của mình.

Đường vào làng Phù Lãng lắt léo qua nhiều ngõ nhỏ. Bạn sẽ đi qua con đê, qua những cánh đồng và con đường nhỏ chằng chịt như mê cung. Và khi bạn chưa kịp nhìn quanh xem liệu đã đến làng chưa thì bạn đã thấy hai bên đường bày đủ chum vại với màu men nâu đặc trưng Phù Lãng. Bạn còn sẽ nhìn thấy những gian nhà nhỏ xinh xắn với bờ rào bao quanh được làm bằng những chiếc tiểu quách xếp chồng lên nhau.

Đến đây, bạn sẽ thấy gốm ở tất cả mọi nơi. Trong những ngôi nhà là chum vại phơi sát hai bên bờ tường, ở các góc sân. Dọc bên đường, chạy ra đến bờ sông, người ta phơi rất nhiều đồ gốm mới cất. Những chiếc bình, chiếc lọ in màu của đất, rơm rạ, dòng sông, của những bãi ngô còn xanh màu mới phảng phất bóng dáng làng quê Việt yên bình, tĩnh lặng.

Đi sâu vào những ngõ nhỏ trong làng, nhiều lò gốm vẫn còn đang đỏ lửa. Sản phẩm gốm Phù Lãng khác hẳn với hai làng nghề Thổ Hà và Bát Tràng. Trong thời gian phục hồi lại làng nghề, Bát Tràng nghiêng về các chất liệu men với những sản phẩm gia dụng thiết yếu như bát đĩa, bình hoa... được tráng men. Còn sản phẩm chính của làng Phù Lãng là chum vại, ấm đất chậu cảnh, tiểu sành, tranh gốm, lọ hoa, ấm chén, đồ trang trí, ốp tường, lư hương... rất được ưa thích.

Nguyên liệu để tạo ra những sản phẩm của gốm Phù Lãng là đất sét có màu hồng nhạt ở làng Thống Vát, Cung Kiệm thuộc Bắc Ninh. Người dân phải dùng thuyền lớn để chở đất về Phù Lãng. Qua nhiều công đoạn, đất sét được luyện dẻo mịn rồi tạo hình trên bàn xoay bằng tay của người thợ thủ công.

Giới nhiếp ảnh và các đôi bạn trẻ rất thích chụp ảnh tại ngôi làng này. Những góc nhỏ xinh xắn in đậm nét đẹp của của gốm với màu sắc chủ đạo nâu đỏ, vàng, cam và những nét hoa văn từ bàn tay tài hoa của người người thợ làng gốm tạo nên những sản phẩm đặc trưng chỉ có ở Phù Lãng. Người ta không thể nhầm gốm men nâu này với bất cứ sản phẩm gốm của các làng nghề khác.

Đến với làng Phù Lãng, bạn còn có thể tự tay làm cho mình những chiếc bình xinh xắn tặng bạn bè và người thân. Giá cả các sản phẩm cũng bình dân, từ khoảng 60.000 đồng trở lên cho các lọ hoa lớn. Với các lọ và bình hoa của Phù Lãng, bạn nên cắm với các loài hoa như hoa hoa cúc, hoa sen, những loài hoa của đồng quê Việt Nam.

Đường đi đến Phù Lãng không quá khó tìm, từ Hà Nội, bạn đi qua cầu Chương Dương sang Gia Lâm, chạy đường Quốc lộ 5 rồi rẽ trái ra quốc lộ 1A mới. Từ đó, bạn đi thẳng đến Bắc Ninh, rẽ phải sang quốc lộ 18, đường đi Quảng Ninh. Khi đến tấm biển cây số ghi cách Phả Lại 6 km, bạn hỏi đường rồi rẽ trái để vào làng. Làng Phù Lãng, Bắc Ninh nằm sát với tỉnh Hải Dương, bên bờ dòng sông Cầu hiền hòa.

Theo Ngoisao.net

Chủ Nhật, 23 tháng 1, 2011

Bánh chưng Tranh Khúc

Bánh chưng Tranh Khúc từ lâu đã trở nên quen thuộc với người dân Thủ đô.
Hiện nay, người làng Tranh Khúc, xã Duyên Hà, huyện Thanh Trì, Hà Nội còn làm thêm bánh chưng gấc, bánh chưng chay, bánh chưng có nhân (trứng, thịt gà, lạp xường…) để xây dựng thương hiệu cho loại đặc sản này.

Người làng Tranh Khúc rất biết giữ gìn danh tiếng của mình, nhất là từ khi được Sở Công thương Hà Nội và Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam (Bộ KH&CN) ban hành quyết định chấp nhận đăng ký tiêu chí nhãn hiệu làng nghề bánh chưng, bánh dày truyền thống. Hiện bánh chưng Tranh Khúc chiếm đến 60% thị phần Hà Nội, có mặt trong cả các siêu thị lớn, cũng như lan tỏa đi khắp nơi trong và ngoài nước.

Những ngày này, nhà nào cũng tràn ngập màu xanh của lá dong, mùi thơm ngậy của đậu xanh đang đun trên bếp, nồi luộc bánh chưng to sụ...
Trên con đường nhỏ vào làng tấp nập xe ôtô ra vào, chở lá dong, chuyển bánh chưng... Sân nhà nào cũng thấy đống lá dong đã rửa sạch sẽ, xếp sẵn chuẩn bị gói cao đến cả mét, nếu không thì là chồng bánh chưng cao ngất.

Chẳng ai biết được làng đã làm nghề này từ khi nào. Nhưng có lẽ từ lâu lắm rồi, cứ cha truyền con nối, hết đời này sang đời khác. Người làng đã đem bánh chưng đi khắp Hà Nội và một số tỉnh lân cận. Trưởng thôn Nguyễn Văn Thanh cho biết, cả làng có 218 hộ thì có đến 70% có nghề làm bánh chưng. Làng làm bánh quanh năm, nhưng nhộn nhịp nhất vẫn là dịp Tết. Bình thường mỗi nhà chỉ làm 50-100 cái mỗi ngày thì dịp gần Tết phải 500, có nhà làm 1.500 chiếc một ngày.

Làm bánh có nhiều công đoạn, lại làm nhiều nên nhà nào cũng phải huy động hết các thành viên trong gia đình. Người già, trẻ em không làm việc nặng thì rửa lá, xếp lá, đánh nhuyễn đỗ, mỗi người mỗi việc.

"Bí quyết làm bánh chưng của làng không có gì đặc biệt, cũng từ các nguyên liệu gạo nếp, đậu xanh, thịt lợn gói trong lá dong. Tuy nhiên, để làm bánh chưng ngon phải rất cầu kỳ từ khâu chọn lá, chọn gạo, chọn đậu", ông Thanh chia sẻ.
Đơn giản như việc chọn số lượng lá cũng phải xem thời tiết. Nếu thời tiết thuận, lạnh chỉ cần vừa lá, thông thường gói bộ cần 6 lá. Nhưng những khi trời nồm và nóng thì phải gói dầy lá lên, có khi phải gói 10 lá. Như thế việc bảo quản bánh sẽ tốt hơn rất nhiều.

Gạo nấu bánh có rất nhiều loại: của Bắc Ninh, Thái nhưng nếu chọn loại nếp cái hoa vàng của vùng Hải Hậu là ngon nhất. Hạt tròn, thơm, dẻo trắng, đều, không gãy. Trước khi gói bánh chỉ cần vo sạch gạo trước một giờ để ráo, chứ không nên ngâm gạo qua đêm. Vì như thế gạo sẽ hút nước, nở hết cỡ, khi gói bánh sẽ không được chặt, còn làm bánh nhanh chua.

Lúc gói chỉ cần dấp qua nước, như thế gạo không bị chảy, gói gọn bánh, cho thêm ít muối để bánh không bị nhạt. Với cách làm này, bánh vừa tơi vừa nhừ, dền lại gọn bánh, xâu bánh rất chắc.

Đậu xanh cũng phải chọn loại ngon, dẻo. Trước đây khi chưa có đậu vỡ sẵn, dân làng thường chọn loại đậu hạt tiêu, sẫm màu, ngon và thơm ngậy hơn loại đậu mỡ hạt to, lại bở và dẻo.
"Một số nơi gói bằng đậu sống nên khi ăn còn mùi ngai ngái, nhưng ở làng này chúng tôi nấu gạo lên như nấu cơm, sau đó chắt nước luộc đi rồi mới đánh nhuyễn. Như thế đậu xanh sẽ không có mùi này", ông Thanh nói.

Bánh chưng muốn ngon, ngậy một phần cũng do thịt lợn, thường là loại thịt ba chỉ. Nhưng những lúc làm nhiều bánh, cũng có thể lấy thịt vai, thịt mông gói thay nhưng phải là loại ngon nhất. Sau đó trần qua nước nóng trước khi thái, miếng thịt vừa sạch lại cứng, ướp hạt tiêu, mắm muối đầy đủ.

Bánh phải gói chặt tay, buộc chặt rồi luộc 8-10 tiếng. Khi bánh chín, người ta thường rửa qua nước lạnh cho bánh được sạch, lá không bị khô, xấu lá. Rồi sau đó dùng một tấm phên chèn để nước trong vỏ bánh chảy hết đi. Lúc đấy bánh vẫn còn đang mềm, làm như vậy cũng có tác dụng làm cho bánh nở đều, các góc chặt như nhau.

Thường công đoạn làm lá được tiến hành buổi sáng, chiều mới gói, và cuối buổi chiều thì bắc bếp. Tối đến, bếp nhà nào nhà nấy bập bùng suốt đêm. Sáng ra, bánh được vớt, ép và chuẩn bị đưa đi.

Bánh chưng ngon là khi cắt ra phải chắc nhưng hạt gạo mềm và dẻo, ăn vào có vị thơm và béo ngậy. Giá bánh còn tùy vào người đặt, thường là 15.000-20.000 đồng, cũng có nhà gói tới 50.000 đồng một chiếc.

Thường chỉ vài tiếng sau, bánh luộc ra sẽ theo chân người làng hoặc người đặt hàng đi khắp các siêu thị, chợ và nhiều gia đình ở nội thành Hà Nội và các vùng lân cận.

Tổng hợp từ Hà Nội Mới, VnExpress, Lao Động

Thứ Bảy, 22 tháng 1, 2011

Làng nghề rượu Vọc - Hà Nam

Đóng góp vào sự độc đáo cùng với hơn 40 làng nghề tại Hà Nam, làng Vọc ở huyện Bình Lục là một làng nghề nổi tiếng với rượu Vọc. Về thăm làng Vọc ta sẽ được thấy cuộc sống no ấm cùng với nghị lực vươn lên của người dân vùng đất này.

Làng nghề rượu Vọc thuộc xã Vũ Bản được coi là làng thịnh vượng hơn cả nhờ có nghề nấu rượu gạo truyền thống. Ngoài công việc chính làm ruộng, hầu hết các gia đình trong làng đều tham gia ít nhiều vào nghề này: hoặc làm men, buôn bán men, nấu rượu hay mở cửa hàng bán rượu.
Từ bao đời nay, người làng Vọc chỉ trung thành với một công thức chưng cất rượu. Rượu được nấu bằng gạo đặc sản ủ với men ta gồm 36 vị thuốc Bắc. Công đoạn làm rượu rất công phu. Từ lúc úp men phải trải qua 2 – 3 ngày, chờ khi men dậy mới được mở. Cơm rượu nấu chín vừa, không khô hoặc nhão quá, đánh tơi để nguội trước khi rắc men, sau đó cho vào vò sành ủ 48 tiếng, khi có mọng mới được đổ nước, sau 2 đêm thì đem nấu.

Từ lâu người làng Vọc đã xây dựng được hương ước bảo vệ và giữ gìn bí quyết gia truyền. Quy ước quy định rõ ràng về chất lượng rượu cổ truyền làng Vọc, rượu chỉ dùng men thuốc Bắc, nấu với gạo đặc sản của quê hương, nghiêm cấm việc sản xuất rượu kém chất lượng làm ảnh hưởng đến uy tín của làng. Hiện nay có nhiều công nghệ sản xuất rượu hiện đại nhưng người làng Vọc vẫn cất rượu theo phương pháp cổ truyền. Cầm chai rượu trong veo, chỉ cần mở nút hoặc lắc nhẹ, những bọt rượu chạy quanh chai bám chặt với nhau toả ra hương thơm ngào ngạt.

Nói tới rượu làng Vọc, không ai không nhắc tới thương hiệu Vọc Long Tửu của gia đình ông Nguyễn Văn Long, người đã có công lớn trong việc vực dậy danh tiếng của rượu làng Vọc trước sự suy giảm chất lượng men và sự tấn công ồ ạt của các loại rượu ngoại cùng nhiều sản phẩm đồ uống trên thị trường. Sinh ra trong gia đình theo nghề nấu rượu lâu đời, ông Long rất buồn khi thấy rượu quê mình ngon mà chỉ bán quanh quẩn mấy vùng lân cận. Ông quyết định phải xây dựng một thương hiệu cho rượu Vọc để có thể tự tin mang sản phẩm quê mình đi xa hơn nữa, đó là thương hiệu Vọc Long Tửu.

Hiện nay, Vọc Long Tửu đang có mặt trên thị trường cả nước nhất là các thành phố lớn như: thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và được du khách mua làm quà mang sang các nước Nhật, Đức, Pháp, Nga... để làm quà và quảng bá thương hiệu. Vọc Long Tửu đã đoạt được nhiều giải, cúp vàng về chất lượng và mẫu mã cùng nhiều câu thơ ca tụng.

Cùng với bí quyết gia truyền và sự chịu thương, chịu khó của người dân làng nghề, làng Vọc còn được thiên nhiên ban tặng cho một nguồn nước quý để tạo nên sản phẩm rượu Vọc có hương vị đặc trưng mà những nơi khác không thể có được dù có cùng bí quyết nấu rượu.

Nhờ sự giáo dục qua nhiều thế hệ làng nghề về cái tâm trong sáng nên dù trong thời kỳ cạnh tranh gay gắt nhưng rượu Vọc vẫn giữ được hương vị đậm đà, không phai lẫn với hàng trăm thứ rượu đang có mặt trên thị trường. Đặc biệt, để đảm bảo vệ sinh, rượu chỉ đóng trong vò sành, nậm gốm chứ không đựng trong can hoặc chai nhựa. Được khách hàng gần xa biết đến, nhất là trong thời kỳ hội nhập WTO, thị trường rượu Vọc ngày càng mở rộng. Trước đây, làng chỉ bán ra thị trường 1 triệu lít /năm, nay tăng lên gấp 2 lần. Nhờ rượu, mỗi năm Vũ Bản đạt giá trị thu nhập 22 – 25 tỷ đồng. Hương rượu Vọc đã bay tới Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, là món quà không thể thiếu của những người con xa quê hương. Nhờ làm rượu mà làng Vọc đã thay da đổi thị, đường làng ngõ xóm được bê tông hoá, nhà cao tầng mọc lên san sát, làng không còn hộ đói, hộ khá giàu tăng mạnh.

Với sự quyết tâm phát triển nghề của những người dân làng Vọc như ông Long cùng thương hiệu Vọc Long Tửu và cùng với sự quan tâm của các cấp chính quyền, rượu Vọc đã trở thành đặc sản quý không chỉ của Hà Nam. Niềm tự hào đó nhắc nhở người làng Vọc càng phải có trách nhiệm trong việc giữ gìn bản sắc truyền thống của làng nghề, để rượu Vọc chiếm lĩnh được thị trường, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.

Du lịch, GO! - Theo Dulich.dov