Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phong tục - Văn hóa VN. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 18 tháng 5, 2011

Tháp cổ Vĩnh Hưng

Tháp cổ Vĩnh Hưng tọa lạc tại ấp Trung Hưng 1, xã Vĩnh Hưng A, huyện Vĩnh Lợi, cách TP.Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu khoảng 20km.

Tháp được liệt kê vào danh mục các di tích kiến trúc Khmer, với tên gọi tháp Trà Lòng và đã được nhà cầm quyền lúc đó xếp trong danh mục di tích lịch sử ở Nam Kỳ.

Tháp còn có tên gọi khác như: Bhah Dha, Lục Hiền... Theo tư liệu, tháp cổ Vĩnh Hưng được một nhà khảo cổ người Pháp phát hiện vào năm 1911, có số hiệu 902. Tháp thờ một vị vua Khmer có tên là Yacovar - Man.

Vào thế kỷ 20, các nhà khảo cổ học đã phát hiện tấm bia khắc chữ Phạn ghi rõ tháng 814 tương ứng với năm 892 (sau CN) ở chùa cạnh tháp. Tháp được xây dựng trên diện tích hơn 1.000m2. Bình diện chân tháp hình chữ nhật với hai cạnh là 5,6m và 6,9m, chiều cao của Tháp còn lại 8,2m (đỉnh Tháp đã bị sập), nóc cao uốn thành vòm với một cửa chính của Tháp quay về hướng tây. Toàn bộ ngôi Tháp được xây dựng bằng gạch.

 < Những hiện vật trong tháp cổ.


Trong tháp có một bàn tay tượng thần bằng đồng; một phần thân dưới của tượng nữ thần; tượng nữ thần bằng đá xanh; tượng nữ thần Brahma mặt bằng đồng; đầu tượng Phật bằng đồng... và một số vật thờ khác.

Những lần khảo sát và thăm dò, các nhà khảo cổ đã tìm thấy những mảnh gốm thuộc nền văn hóa Óc Eo và những tượng đồng - đặc biệt có tượng bốn mặt.

Lý thú hơn cả là lần khai quật gần đây nhất (3/2002), các nhà khảo cổ đã phát hiện nhiều tượng đồng đặc biệt quý hiếm, bên cạnh đó còn có những tấm ngói còn nguyên vẹn hoa văn.

Mặc dù chưa công bố kết quả, nhưng những bức tượng ấy khó tìm thấy ở đâu đó, dù trong những quyển sách nói về tượng cổ.

Mỗi ngày có rất nhiều du khách, các nhà nghiên cứu đến tham quan tháp, nhưng đông nhất là ngày 15 tháng giêng âm lịch, nhân dân địa phương tổ chức giỗ lớn tại tháp.

Để chiêm ngưỡng Tháp cổ, du khách đi đường quốc lộ 1A hướng Bạc Liêu - Cà Mau, khoảng 5km đến cầu Sập, rẽ phải theo lối vào chợ Vĩnh Hưng A, là đến tháp Vĩnh Hưng.

Du lịch, GO! - Theo Datmui online

Thứ Ba, 17 tháng 5, 2011

Sơn nữ Bh'noong kén chồng

Trong đêm vắng, tiếng reo ca, tiếng vỗ tay của bà con rộn ràng cả buôn. Đêm nay, có 3 thiếu nữ Bh'noong tuổi trăng tròn kén được bạn đời...
"Ngửa cồng ra đổ rượu tràn trề/Ngửa chiêng lên sắp thịt đuề huề/Mời Giàng về chứng cho duyên đôi lứa gắn bó không rời...".

Đồng bào Bh'noong là một nhánh nhỏ của người Giẻ Triêng cư trú ở dải đất phía tây thuộc các xã Phước Công, Phước Mỹ, Phước Thành... của huyện miền núi Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam. Sống theo chế độ mẫu hệ từ thuở mở đất, phụ nữ Bh'noong là chủ gia đình, có quyền quyết định mọi thứ, kể cả việc "kén rể".

Chàng trai đến tuổi trưởng thành, nếu được cô gái nào để ý và có sự hậu thuẫn của cha mẹ, họ hàng, sự ưng lòng của hội đồng già làng, thì đúng vào dịp lễ hội Pơ-truh (lễ khao mừng) hàng năm, chàng sẽ bị bắt về làm chồng cô gái.

Theo phong tục, mỗi năm đồng bào Bh'noong chọn thời điểm thích hợp để tổ chức lễ Pơ-truh với ý nghĩa cầu mong thần linh che chở và giúp đỡ cho buôn làng chống lại thiên tai, dịch bệnh, địch họa... để mùa màng bội thu; dân làng đoàn kết và không ai ốm đau hay bệnh tật; heo gà, trâu bò đầy chuồng...

Lễ hội diễn ra từ 2 - 3 ngày đêm tại nhà rông. Con cháu trong buôn dù đi làm ăn ở xa mấy cũng phải về dự lễ hội. Với những sơn nữ đến tuổi lấy chồng, đã tìm được chàng trai ưng ý sẽ nhờ cha mẹ mình chọn thời điểm thích hợp đến gặp riêng hội đồng già làng để xin phép và bàn kế hoạch “bắt” con rể ngay trong ngày cuối cùng của lễ hội. Tất cả thanh niên tham gia cuộc này phải do các già làng lựa chọn. Mọi sự sắp xếp, chuẩn bị diễn ra bí mật, ngay cả "chàng rể tương lai" và gia đình anh ta đều không hề hay biết.
  Your Ad Here
Đúng giờ đã định, sau mật lệnh của người già phát ra, từng tốp thanh niên vào rừng, xuống suối hay ra bãi hội để tìm "bắt" những chàng trai đã được chọn, dẫn họ về nhà rông. Ai chống cự sẽ bị trói rồi khiêng về.

Khi tất cả những chàng rể đã tập trung trên sàn nhà rông, hội đồng già làng đứng ra làm lễ se duyên: Dùng tiết gà hòa rượu cần vảy lên đầu, chấm lên trán các đôi trẻ, rồi lần lượt ban rượu "giao môi" cho các cô dâu, chàng rể uống giữa tiếng hò reo, cổ vũ của mọi người. Mỗi cặp dâu rể lần lượt được dân làng đến chúc rượu cho tới khi lâng lâng.

Thủ tục này kết thúc khi từng cặp được khiêng vào từng góc nhà rông, được đắp lên bằng những tấm chăn hoa mới nhất, đẹp nhất. Kể từ đây, chàng trai - cô gái chính thức trở thành vợ chồng, có thể qua lại giúp đỡ 2 bên cha mẹ, đợi đến ngày lành tháng tốt sẽ tổ chức lễ cưới.

"Qua bao đời, ở xứ này đã có hàng trăm cặp gái trai nên duyên chồng vợ sau lễ Pơ-truh, nhưng chưa có cặp nào bỏ nhau. Nếu vì một lý do nào đó mà người con trai rời bỏ vợ mình sẽ bị phạt rất nặng. Tục bắt chồng là nét đẹp trong hôn nhân của người Bh'noong ta, nó sẽ còn tồn tại mãi..." - già A Vi Bằng (85 tuổi) ở buôn 2, xã Phước Công, tự hào nói.

Du lịch, GO! - Theo Danviet

Cuối tuần với chợ Chuông

Mỗi phiên chợ làng Chuông rơi vào thứ 7 hay chủ nhật, là tôi lại í ới bạn bè xách máy ảnh lên đường.

Chợ làng Chuông đã trở nên quen thuộc với nhiều tay máy từ nghiệp dư đến chuyên nghiệp của Hà Nội, bởi ở đó, người ta tìm thấy những khuôn hình đẹp của một làng quê thanh bình, làng nghề vẫn giữ những nét riêng truyền thống... Và bởi thứ không khí nhẹ nhàng mà phố thị không có được trong suốt một tuần mệt mỏi và hối hả bởi áp lực công việc và cuộc sống.

Chợ làng Chuông thì sáng nào cũng họp, vì đó là phiên chợ mỗi ngày của xã Phương Trung, huyện Thanh Oai thuộc tỉnh Hà tây (cũ), nay đã là chợ quê của Hà Nội. Nhưng chợ nón làng Chuông thì chỉ họp 6 phiên một tháng, vào các ngày âm lịch có đuôi tận cùng là 4 và 0. Thỉnh thoảng giật mình nhìn lên đốc lịch, tôi lại thấy trong lòng háo hức nếu chợt nhận ra ngày phiên chợ.

Chợ Chuông gần lắm, cách trung tâm Hà Nội chưa đầy 30km, chỉ có điều phiên chợ nón họp sớm, 6g sáng chưa tỏ mặt người đã nghe lao xao nói cười, chộn rộn cả đình làng Chuông, chộn rộn mọi ngõ ngách xóm nhà hay tiếng người vọng xa vọng gần trên con đê sông Đáy.

Cuối tuần có phiên chợ nón, tôi thường thức dậy lúc 5g, hẹn bạn đồng hành ở cầu Hà Đông, rồi chạy xe long rong qua thị xã đang cựa mình thức giấc. Những chiếc xe máy, xe thồ ngược chiều chở đầy thực phẩm từ ngoại thành vào phố, cắm cúi, vội vàng. Thấy hạnh phúc khi cuộc sống bận rộn mà mình vẫn sắp xếp được thời gian đi rong, được thỏa mãn thú vui đi lại, thú vui chụp ảnh..

Tôi thích leo lên gác chuông ngồi ngắm người dưới chợ đi qua đi lại, trao đổi, mua bán, mặc cả, ngó nghiêng. Cũng không quên ghé qua quán nước dưới gốc đa làng để mang theo lên một ấm trà và dăm ba cái chén, vừa uống vừa chuyện phiếm với bạn bè. Từ trên cao nhìn xuống, thấy lòng hân hoan một cảm giá khó tả.

Này nhé, sân chùa đầy các mẹ, các chị với những chồng lá nón cao ngất ngưởng, ấy thế mà chỉ 2 tiếng sau thôi, đã thấy rất nhiều người dọn hàng đi về tự bao giờ. Xe đạp dựng ngổn ngang, ai cũng tíu tít bận rộn với vội vàng. Quanh ao làng, người cũng ngồi đông chen chúc, ai mua ai bán, ai chọn hàng đẹp, ai nài hàng xấu... tôi không nhận ra, nhưng thấy cuộc sống giản dị ấy cứ chảy trôi, chảy trôi quá đỗi nhẹ nhàng.

Phía bờ đê, người làng hay bán hoa, bán rau lẫn với bán mo cau. Vì là phiên chợ nón, nên nguyên liệu nón đâu đâu cũng thấy: là lá, là mo, là khuôn nón, vòng nón, chỉ lồng nhôi rực rỡ sắc màu, chỉ cước trắng tinh, đỏ tươi lấp lánh…

Người ở gần tới chợ Chuông để mua nguyên liệu về khâu nón thành phẩm, đến phiên chợ sau lại có hàng mang ra bờ sông Đáy, giao cho người buôn xa đi về khắp các tỉnh thành. Đâu đâu cũng đông vui, náo nhiệt và rộn ràng.
Đầu cổng chợ, là nơi bán nón thành phẩm. Ngay cạnh đó có một hẻm nhỏ toàn các cụ già trao đổi mua bán vòng nón đã quây và các thanh vòng mới vót.

Chỗ bán nón thành phẩm lúc nào cũng đông và ấm sực vì người đông vô kể. Các bà, các chị đi bán nón nhiều khi cứ phải cầm cả chồng giơ lên cao trên đầu để đi xuyên qua đám đông đang say sưa chọn hàng và mặc cả, nài giá. Đám con buôn cứ chắp tay đeo túi đi vòng vòng, xem xét hàng rồi thủng thẳng trả giá, trả được giá thì gom hàng vào một chỗ, chờ vãn chợ là xếp và quấn thành một chồng dài, cho lên xe kĩu kịt đi tới bến ô tô, nhanh chóng tỏa đi khắp chốn.
Chợ nón vãn người sau chừng 2g họp chợ, tôi lại lững thững quay lại sân chùa Chuông, lúc này chỉ còn sót lại một vài người đang ngồi cố bán những chùm lá nón cuối cùng, có những cụ bà hỉ hả lần tiền trong bao tượng ra đếm, có những chị gái tranh thủ dọn nốt hàng xếp lên chiếc xe đạp cũ để về nhà… Ai cũng mộc mạc, dễ gần, và câu chuyện về cuộc sống nở ra khi bạn bắt lời…

Mỗi cuối tuần đúng phiên chợ Nón làng Chuông, tôi lại muốn được về chốn ấy, được nhìn những mảnh cuộc sống dịu êm, được trò chuyện với những người phụ nữ tảo tần và hồn hậu, được uống chén chè chát trên gác chuông tam quan, hay dạo bước qua những gian hàng ồn ào rộn rã…

Du lịch, GO! - Theo TTO

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2011

"Làng Singapore" giữa Trường Sơn

Giữa đại ngàn Trường Sơn có một ngôi làng đặc biệt - làng Aur hay còn gọi là "làng Singapore” vì cuộc sống ở đây rất ấm no, người dân gìn giữ môi trường rất sạch sẽ.

Làng Aur như “ốc đảo” giữa Trường Sơn, có độ cao hơn 1.000m so với mặt nước biển, hiện có 15 hộ, 72 nhân khẩu, đều là dân tộc Cơtu. Trước đây, làng Aur thuộc huyện Nam Đông (Thừa Thiên - Huế), năm 2003, được sáp nhập về xã Avương, huyện Tây Giang.

Để đến được làng Aur, từ trung tâm xã A Vương phải vượt qua những con dốc dựng đứng đến làng Zaréch bằng xe máy rồi tiếp tục lội bộ trên 20 km băng rừng, vượt suối và trèo qua 4 ngọn núi cao. Từ đó, phải tiếp tục vượt 372 bậc tam cấp bằng gỗ dựng đứng để đặt chân đến đỉnh bản Aur treo giữa lưng trời.

Vừa đặt chân đến làng Aur, trước mắt tôi hiện ra bạt ngàn mây trắng bao phủ bản làng trông như một bức tranh tiên cảnh.

Khi sương mù dần tan, Aur hiện ra thật đẹp. Một người bạn đi cùng vứt mẩu thuốc lá hút dở xuống sân làng, thầy giáo Dương Đông, giáo viên tình nguyện lên dạy học ở Aur, cũng là người dẫn đường cho tôi, liền nhặt lên bỏ vào sọt rác gần đó, rồi nói: “May mà không ai nhìn thấy. Ở đây, người dân văn minh lắm. Lệ của làng là nếu ai xả rác trong khuôn viên làng sẽ bị phạt nặng. Trẻ vị thành niên thì bị phạt 2 ngày quét rác và dọn nhà cho 17 hộ trong làng; người lớn thì bị phạt 5 ngày; khách đến làng nếu lỡ vi phạm thì bị nhắc nhở”.
  Your Ad Here
< Hồn nhiên nụ cười trẻ em Aur.

Theo chân già làng Alăng Zèng đi một vòng quanh khuôn viên của làng (rộng chừng 5.000 m²), chúng tôi nhận thấy chỗ nào cũng sạch bóng.

Già làng Alăng Zèng khoe: “Nước trong bể tắm giặt của bản được lấy từ nguồn nước suối, trong veo theo đường ống nhựa đưa về làng”. Nước chảy ào ạt cả ngày đêm, mát rượi. Thế nên không như ở những bản làng khác, trẻ em người Cơ Tu tại Aur đều trắng trẻo, sạch sẽ.
Già làng Alăng Zèng đưa chúng tôi vào thăm từng gia đình. Những căn nhà cất bằng gỗ, lợp tôn và nền được lót bằng gạch hoa, tươm tất đến không ngờ.

< Khi có khách đến thăm, thanh niên trong làng vào rừng hái rau, hái nấm...

Mỗi ngày ba lần như lệ làng đã ban (sáng, đầu chiều và chiều tối), người già và trẻ em phải tập trung quét dọn nhà cửa, sân làng; nhà nào để phát hiện có rác, bụi bặm thì bị nhắc nhở, phê bình trong những lần họp bản.

Làng Aur cũng đã có điện phát bằng tua-bin ở ngoài suối nên đời sống người dân khá tiện nghi. Vài người dùng điện thoại di động, đã có sóng Viettel ở đây, dù hơi chập chờn! Ở nơi xa xôi heo hút này học sinh rất ham học khiến những giáo viên tình nguyện như thầy giáo Dương Đông cảm thấy ấm lòng.

< Mỗi gia đình đều chuẩn bị thức ăn mang về để tiếp khách.

Đêm xuống, bên ché rượu cần, đĩa cá niêng đãi khách, cả làng vây quanh bếp lửa hồng. Già làng Alăng Zèng từ tốn kể về lai lịch làng Aur. Theo đó, thuở xa xưa, Aur đông đúc lắm.

Trải qua hàng chục năm chiến tranh, nhiều gia đình phải sơ tán về làng Thượng Long *huyện Nam Đông, Thừa Thiên - Huế); một ít gia đình bám trụ lại. Đến năm 1990, một nhóm người đi săn mật ong rừng phát hiện có nhóm người Cơ Tu đang sống ở đây liền về báo với chính quyền xã Thượng Long.
Tuy nhiên, đường về nơi gần nhất của xã Thượng Long cũng mất 3 - 4 ngày đêm cắt rừng nên Aur chưa được sáp nhập xã này.

< Sản vật của rừng.

Đến năm 2003, khi phân định ranh giới, biết Aur thuộc huyện Tây Giang, Chủ tịch Bhríu Liếc đã nhận Aur về cho xã A Vương. Tất cả các hộ dân ở Aur đều đã được chính quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bây giờ, Aur là một trong những bản trù phú nhất của các bản thuộc huyện miền núi Tây Giang.
Rót chén rượu mời khách, mẹ Alăng Thảo - 80 tuổi, huyền thoại sống của Aur, nữ chiến sĩ du kích thời kháng chiến chống Mỹ - tự hào kể về những năm tháng đánh giặc ở ở thượng nguồn sông Hương.

Năm 1966, những viên đạn trong nòng súng của mẹ đã bắn rơi một chiếc máy bay giặc, bên trong đầy lính mắt xanh, mũi lõ. Có lần, mẹ đã hạ một con cọp dữ để bảo vệ dân làng.
Già làng Alăng Zèng gật gù: “Với người Aur, hơn 40 năm qua, mẹ Alăng Thảo là anh hùng của bản, của đồng bào Cơ Tu giữa đại ngàn”.

Già làng Alăng Zèng cũng là tấm gương của dân Aur. Ông luôn chịu khó băng rừng xuống xã tham gia các lớp tập huấn về kiến thức pháp luật cũng như phong trào xây dựng thôn bản văn hóa, sinh đẻ có kế hoạch, cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"... rồi trở về làng hướng dẫn cho bà con. Nhờ đó mà làng Aur được no đủ, sạch sẽ, yên bình như hôm nay.

Sáng sớm ở Aur mây phủ là đà, se se lạnh giữa mưa phùn, một lát sau trời hửng nắng, “làng Singapore” hiện ra tinh tươm, trù phú giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ. Mùa xuân như đã đến sớm ở nơi này...

Du lịch, GO! - Theo Nguoilaodong, Bao Binhthuan

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2011

Ngắm sơn nữ ở chợ tình

Chợ tình Khau Vai, phiên chợ tình độc đáo trên miền đá núi Hà Giang đã khép lại, nhưng khách phương xa sẽ không thể quên được ánh mắt, nụ cười của những thiếu nữ vùng cao.

< Vẻ đẹp rực rỡ, kiêu sa như đóa hoa rừng.

Truyền thuyết kể rằng, ngày xưa ở vùng Khau Vai có chàng Ba người Nùng và cô con gái út người tộc trưởng Giấy yêu nhau tha thiết. Mối tình của họ bị ngăn trở và là nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn giữa hai dòng tộc.

< Những cô gái này đã phải đi bộ nhiều cây số để đến chợ tình.

Không muốn hai gia đình thù hận...hai người đã gạt nước mắt, chia tay nhau nhưng hẹn kiếp sau sẽ nên chồng vợ và hàng năm cứ đúng ngày chia tay này sẽ tìm về gặp lại nhau tại núi Khau Vai... Ngày họ chia tay là ngày 27/3 âm lịch.

Những cô gái vùng cao đã sửa soạn nhiều ngày trời để đến phiên chợ tình. Họ mặc những trang phục đẹp nhất của người Mông, người Dao, người Tày, Nùng… khiến cả phiên chợ cứ rực lên như rừng hoa.
  Your Ad Here
< Lúc nào cũng bẽn lẽn trước ống kính máy ảnh.

Họ đến với chợ tình để chuyện trò sau những ngày dài quẩn quanh trên đỉnh núi mù sương, đến với chợ tình để tìm bạn tình.
< Họ mang trên mình những bộ trang phục đặc trưng của dân tộc mình.
< Nụ cười giữa phiên chợ.
< Ánh mắt nhìn xa xăm như hút hồn kẻ lãng du.
< Niềm vui về chợ.
< Những chàng trai, cô gái rúc rích bên chiếc điện thoại.
< Đến chợ tình để trò chuyện sau những ngày lên nương lên rẫy
< Nghe người tình thổi khúc khèn Mông.
< Sau đêm nay sẽ có nhiều thiếu nữ tìm được người yêu...


Và vẻ đẹp của người thiếu nữ vùng cao có gì đó e ấp như sương núi, mộc mạc như đóa ban rừng nhưng không khỏi hút hồn lữ khách bởi ánh nhìn xa xăm…

Du lịch, GO! - Theo Vietnamnet

Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2011

Đi lấy may đêm giao thừa với người Lô Lô.

Đi lấy may đêm giao thừa là một phong tục đẹp có ở nhiều dân tộc trên khắp đất nước Việt. Nhưng ở mỗi dân tộc, cái cách đi lấy may, lấy lộc trong giờ phút thiêng liêng khi đất trời chuyển giao thời khắc lại có nét đặc trưng riêng. Với người Lô Lô, đi lấy lộc, lấy may đồng nghĩa với đi... ăn trộm của nhà khác.

Xóm Lô Lô Chải, xã Lũng Cú (Đồng Văn, Hà Giang) chìm trong biển sương mù. Ngôi nhà trình tường của ông Vàng Dỉnh Sinh trông như một cái lô cốt được bao bọc bởi màn sương trắng, đặc quánh. Tết ở Lũng Cú lạnh tê người, chỉ ấm lên một chút buổi trưa cho hoa đào kịp hồng các sườn núi.

Vợ chồng ông Vàng Dỉnh Sinh lừ khừ bước ra chào khách. Tôi mở lời: "Kính chúc ông bà năm mới mạnh khỏe, may mắn".

Bà Lù Thị Điến nắm tay tôi, cười nheo cả mắt, nói lời cảm ơn bằng tiếng Lô Lô. Áo bông to xù, mũ lông trùm kín mít. Có cảm giác như hai ông bà bước ra từ những câu chuyện cổ. Ông Sinh đưa mắt về phía bàn thờ, nói chuyện phong tục: "Ngày Tết, người Lô Lô đặc biệt chú tâm việc thờ cúng tổ tiên".
Trên bàn thờ có bánh chưng (nhưng không phải là hình vuông mà là bánh dài), có xôi nếp, rượu. Nhưng trên chiếc bàn thờ đơn sơ ấy, thứ gây ấn tượng hơn cả với những vị khách xa lạ như tôi là những thanh gỗ nhỏ bằng ngón tay cái. Ông Sinh giảng giải: Đó là tổ tiên, là ông bà đã khuất. Trên đó có khắc hình người và tên từng người. Cứ mỗi thanh như vậy là một "cụ".
  Your Ad Here
Bà Điến tiếp lời chồng: "Thờ cúng tổ tiên ngày Tết là phải làm thật chu đáo. Cứ mỗi thanh gỗ hình người biểu tượng cho một "cụ" là phải có một đôi bánh chưng dâng lên từ ngày 30 Tết. Mỗi hình người phải có một cái chén, một đôi đũa, hai chai rượu. Người khấn mời tổ tiên về ăn Tết không nhất thiết phải là ông chủ nhà mà ai cũng được, con trai, con dâu đều được hết, miễn là thuộc hết tên người đã khuất".

"Với người Lô Lô, vui nhất là đi chơi đêm 30, sau giao thừa. Mà không phải đi chơi bình thường đâu, đi lấy may, lấy lộc đem về. Đi lấy trộm của người khác ấy mà". Chị Vàng Thị Thanh, con gái bà Điến nói chuyện đi "ăn trộm" đêm 30 một cách say sưa và hào hứng như thế: "Đi lấy may không lấy nhiều, không lấy những đồ vật có giá trị, chỉ là củ hành, củ tỏi, là cây rau, thanh củi nhỏ. Và đương nhiên là không lấy cái của gia đình mình".
Người Lô Lô đinh ninh rằng trong thời khắc bước sang năm mới, nếu ai đó mang về nhà được một chút gì thì năm mới gia đình sẽ gặp nhiều điều tốt lành, làm ăn phát đạt. Người Lô Lô ở Lũng Cú (Đồng Văn) lấy mỗi thứ 12 cái, tượng trưng cho 12 tháng trong năm. Còn người Lô Lô ở Mèo Vạc lại chọn con số 3, hoặc là 3 củ hành, 3 củ tỏi, hoặc có thể là 3 lá rau... Chị Thanh bảo, người Lô Lô ở Lũng Cú kiêng chuyện nhổ trộm tỏi mà không nhổ hết, bị đứt vì họ cho rằng như thế sẽ gặp điềm gở, không tốt. Nếu chẳng may nhổ không đứt thì chớ có cố mà nhổ lên. Tốt nhất là bỏ đi ngay, tìm "vận may" khác. Phong tục tập quán

Điều thú vị là người đi lấy may không đi công khai, không rủ nhau đi, càng không muốn chủ nhà bắt được. Họ cứ âm thầm, lặng lẽ đi, có gặp người quen cũng không chào, coi như không hề quen biết. Thế nhưng nhỡ có bị chủ nhà bắt được, cũng chả sao, chẳng ai trách móc gì. Phong tục mà! Lấy may xong, người Lô Lô đi lấy nước mới, dâng lên tổ tiên rồi mới được đun lên để uống.

Sáng mùng 1 Tết, con trai, con gái tỏa ra các ngả đường, ven sườn núi chơi xuân. Váy áo, khăn mũ rực rỡ. Mỗi cô gái Lô Lô như một bông hoa nhiều màu di động. Chơi xuân với các chàng trai, cô gái Lô Lô ở Lũng Cú, bạn có cảm giác như lạc vào một rừng hoa lung linh sắc thắm, mà có khi đến quên cả đường về....

Du lịch, GO! - Theo blog Minhhuevov

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2011

Giải mã ‘vũ điệu chọc lỗ’ của người Khơ Mú

Không chỉ diễn tả động tác chọc lỗ tra hạt trên nương, vũ điệu tra hạt của người Khơ Mú Nghĩa Sơn (Văn Chấn, Yên Bái) thể hiện khát vọng sinh sôi, ấm no hạnh phúc của đồng bào thiểu số nơi này.

Một thời tăm tối

Những ai đã từng biết về nỗi khổ cực của người Khơ Mú trước cách mạng tháng tám, mới thấy hết sức sống mãnh liệt của một dân tộc qua “vũ điệu sinh sôi” này.

Thuở ấy, người Khơ Mú bị gọi miệt thị là "Xá cẩu" - tức Xá chó. Cuộc sống của họ rất cực khổ, suốt đời chỉ đi làm phu phen, nô dịch cho bọn phìa, tạo, thống lý của các dân tộc khác. Đồng bào sống chui lủi trong các căn lều tạm bợ ven con suối Nậm Tộc, khi mái lá úa vàng, họ lại dắt díu nhau đi dựng căn lều mới. Bởi vậy người ta còn gọi người Khơ Mú Nghĩa Sơn là Xá Toong đương  (tức Xá lá vàng).

Ngày ấy, mỗi khi nhà lang tạo có đám ma, người Khơ Mú phải ngồi dưới quan tài canh ma cà rồng, mặc cho nước hôi thối rỏ vào người, rồi còn phải thay nhau ngày đêm canh mả không cho ma cà rồng bới xác. Có lẽ do luôn phải sống trong sợ hãi mà ngày ấy mỗi khi gia đình có người qua đời, người Khơ Mú Nghĩa Sơn lại lặng lẽ đem ra rừng chôn rồi san đất cho bằng, không nhận ra dấu vết mộ để không bị kẻ ác đào xới…

Có thời điểm, người Khơ Mú chỉ còn 300 khẩu, sống lay lắt, chui lủi ở các bờ suối. Và rồi nhờ có cách mạng tháng tám thành công, người Khơ Mú được đổi đời. Họ được đứng ngang hàng với các dân tộc khác, được bảo vệ chăm lo và phát triển.
  Your Ad Here

Vũ điệu tra hạt – niềm lạc quan bất tận của đồng bào

Thoát khỏi cuộc sống tối tăm, lệ thuộc vào các dân tộc khác, người Khơ Mú không ngừng sáng tạo trong đời sống và lao động của mình. Khi còn sống du canh du cư, họ làm nên chiếc gậy chọc lỗ tra hạt. Có lẽ cuộc sống muôn sắc màu, đầy những âm thanh tuyệt diệu của tự nhiên đã tạo cảm hứng cho những nghệ nhân dân gian sáng tạo nên chiếc gậy độc đáo này. Chiếc gậy không chỉ trở thành công cụ lao động mà còn là nhạc cụ đem lại những phút giây thư giãn trong trẻo trong quá trình lao động.

Chiếc gậy chọc lỗ tra hạt này làm bằng gỗ cứng, dài từ 1,8m đến 2m, đẽo nhọn ở đầu, có khi còn được bịt sắt. Gậy này có ba phần: phần đầu bằng gỗ cứng, phần thân thường bằng tre và phần cuối  được gắn với các nhạc cụ được chế tác đơn giản, gồm những ống tre, nứa nhỏ cho những viên sỏi vào trong.

Khi chọc lỗ, âm thanh dội lên ở phần thân bằng tre như một hộp cộng hưởng. Những viên sỏi va đập vào ống tre, nứa tạo nên những âm thanh trầm, bổng tươi vui, rộn rã giữa non ngàn.

Người Khơ Mú làm nương theo lối đổi công, có thể là một nhóm, có khi cả bản cùng làm. Đàn ông khỏe mạnh dàn hàng ngang đi trước, vừa nhún nhẩy, vừa vung gậy chọc lỗ tra hạt, những âm thanh như đánh thức đất trời, khích lệ những người tham gia lao động.

Các cô gái theo sau nhịp nhàng vung tay gieo những hạt lúa giống vào lỗ, chân gạt nhẹ lấp đất. Tất cả đều nhịp nhàng uyển chuyển, hài hòa trong khúc dân ca của chính người Khơ Mú: “Mưa rơi cho cây tốt tươi/Búp chen lá trên cành/ Trên nương hương thơm nếp vàng/ Măng cười hé lên cùng/Ngạt ngào hương thơm bay theo gió/Những chim nướng cùng nếp thơm/Nhìn mà no!”.Tiếng cười vang xa mấy cánh rừng, bao nỗi mệt nhọc tan biến. Sau mỗi mùa vụ, nhiều đôi thanh niên nam nữ nên vợ nên chồng.

Sau mỗi mùa vụ, đồng bào thường treo cây gậy chọ lỗ này trên gác bếp để tránh mối mọt. Cũng có gia đình để trên nương để thờ “ma nương”, vụ sau lại đem dùng.

Mỗi độ xuân về, người Khơ mú Nghĩa Sơn đều tổ chức lễ hội cầu mùa và vũ điệu chọc lỗ tra hạt với chiếc gậy độc đáo gắn với nhạc cụ bao giờ cũng được thể hiện tưng bừng rộn rã như sự giao hòa âm dương, thức dậy những khát vọng về một cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Du lịch, GO! - Theo Datviet

Thứ Năm, 5 tháng 5, 2011

Tục kết Chạ Khả Lễ Bái Uyên của vùng Kinh Bắc

Tục lệ kết “Chạ” giữa các làng, xóm hay các nhóm người có cùng một lợi ích, một sở thích hoặc một niềm đam mê trong cuộc sống được xem là một trong những nét đẹp văn hóa truyền thống của vùng Kinh Bắc – Bắc Ninh. Lễ hội đón “Chạ” Khả Lễ- Bái Uyên là một điển hình như thế.

Theo những sử liệu nghiên cứu về văn hóa các làng Việt cổ vùng Kinh Bắc xưa, thì việc kết chạ không chỉ riêng ở lĩnh vực hát Quan họ mà đó là một nét đẹp trong tổ chức, quản lý và sinh hoạt của các cộng đồng dân cư. Những làng, xóm có chung một nguồn nước, một cánh đồng hoặc cùng nhau xây dựng quy ước trong việc dựng làng, lập ấp đánh đuổi kẻ gian, giữ yên làng xóm... hoặc thờ chung một Thành hoàng làng đều là “Chạ anh Chạ em” của nhau, không phân biệt địa vị ngôi thứ. Do vậy mà giữa các làng kết “Chạ” đều có tục đón rước, tiếp “Chạ” trong ngày hội, trở thành một nét đẹp trong văn hoá truyền thống và được lưu truyền cho đến ngày nay.

Khả Lễ xưa còn có tên nôm là làng Sẻ thuộc trang Bồ Sơn huyện Tiên Du, nay thuộc phường Võ Cường TP. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Theo những bậc cao niên trong làng cùng những thần tích sắc phong và thư tịch cổ được lưu giữ cho thấy tên gọi làng Sẻ bắt đầu xuất hiện từ thời nhà Trần. Trong cuộc kháng chiến ba lần chống quân Nguyên Mông, dân thôn Khả Lễ đón ba vị dũng tướng của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn là Chính Trực, Nghiêm Trị và Quảng Pháp - người xã Thụy Hậu, huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên đạo Thanh Hoa (Thanh Hóa ngày nay) về mở trại đóng quân trên núi Sẻ, cùng người bản trang xây dựng đồn sở; giúp dân khai khẩn đất hoang, mở làng lập ấp, sẵn sàng ứng phó với quân Nguyên. Khi ba ông hóa vào ngày 24/11 âm lịch, dân bản trại Khả Lễ làm tấu biểu tâu lên triều đình, nhà vua đã phong tặng ba ông làm Trung Đẳng Thần và được người Khả Lễ tôn thờ làm Thành hoàng làng.
  Your Ad Here

Cùng thờ chung Thành hoàng làng nên từ xa xưa người làng Sẻ đã kết “Chạ” với làng Bưởi, thôn Bái Uyên, xã Liên Bão, huyện Tiên Du. Nét văn hóa đặc sắc này đến giờ vẫn được lưu truyền và gìn giữ. Theo tập tục, người làng Sẻ đón “Chạ” Bái Uyên vào hội Đình đám, tức ngày giỗ Thánh 24/11 âm lịch và ngày hội làng mùng 6 Tết Nguyên đán hàng năm.

Đám rước Khả Lễ ra ngoài Điếm đầu làng đón “Chạ” Bái Uyên, hai bên dừng kiệu ở núi Sẻ và cùng dự tiệc rước, ăn bánh rán, bánh xu xuê, kẹo vừng, kẹo lạc và bánh gai, bánh mật rồi cùng về đình làng vào hội Tế. Sau khi hoàn tất các nghi lễ, người làng Sẻ mời “Chạ” Bái Uyên ăn giải cỗ chạ rồi về nhà các ông bà trùm chơi quan họ, ca hát thâu đêm. Hôm sau, người Khả Lễ rước tiến “Chạ” Bái Uyên đến chân núi Sẻ thì chia tay. Về phần mình, người làng Bưởi tổ chức đón “Chạ” Khả Lễ vào ngày hội Đình mùng 5 tháng 12 và hội làng 13 tháng Giêng âm lịch với các nghi lễ đón rước và tiễn như khi “Chạ” làng Bái Uyên lên làng Khả Lễ

Trải qua những thăng trầm của lịch sử, tục kết “Chạ” giữa Khả Lễ và Bái Uyên hiện vẫn được bảo tồn gìn giữ và phát huy. Ông Nguyễn Phương Hợp - Trưởng khu Khả Lễ cho biết, vào các ngày hội đình đám, lãnh đạo và người dân hai địa phương vẫn mời nhau đến tham dự. Việc đón tiếp đơn giản hơn, song vẫn giữ được sự trang trọng, đầm ấm thể hiện tình đoàn kết gắn bó giữa “Chạ anh Chạ em”.

Du lịch, GO! - Theo bao Dulich

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2011

Huế với Lễ hội đua ghe truyền thống

Hội đua ghe truyền thống tỉnh Thừa Thiên Huế là một ngày lễ hội mới được tổ chức sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam 1975. Hội được tổ chức trong một ngày, nhằm ngày lễ Quốc Khánh 02-9 (dương lịch). 

Địa điểm đua là bờ Sông Hương trước trường Quốc Học. Hội nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên nam nữ có cơ hội thi tài trên sông nước, qua đó rèn luyện tăng cường bảo vệ sức khỏe và tạo không khí vui tươi lành mạnh cho nhân dân. Đây cũng là dịp để biểu lộ lòng vui mừng của nhân dân vào ngày Quốc Khánh. Quy mô hội có tính chất rộng rãi liên phường xã và các huyện trong tỉnh. Hội tổ chức theo định kỳ, mỗi năm một lần theo phong tục.

< Các tay đua nữ nỗ lực và khéo léo ngay từ vòng xuất phát trong khi các tay đua nam lại thể hiện sự dũng mãnh.

Vào ngày lễ. Ban tổ chức tuyên bố thể lệ dự giải và chương trình đua bơi gồm có một độ cúng, 7 độ tiền và một độ phá (9 đội đua). Mỗi đội đua phải qua 3 vòng, 6 tráo, riêng độ 7 và 3 độ tiền của nữ là hai vòng bốn tráo. Đội đua bắt đầu bằng một lệnh trống (1 hồi chiêng). Các ghe đua 3 vè chính dọc Sông Hương, lộn vè rốn lúc xuất phát và vòng cuối lúc vào đích. Đây là một tập tục truyền thống vốn được nhân dân mến chuộng từ các lễ hội cổ truyền. Đua trải, đua ghe luôn là một môn thể thao hấp dẫn, biểu thị sức khỏe và tài năng khéo léo của thanh niên nam nữ.
  Your Ad Here
< Hội đua diễn ra trên khúc sông trước Nghinh Lương Đình.
< Dành nhau từng mét nước.
< Chen nhau về đích.
< Những cuộc rượt đuổi trên dòng Hương Giang thơ mộng rất hấp dẫn, kịch tính được các tay đua vạm vỡ vùng sông nước trổ tài. Ngoài sức mạnh, để chiến thắng các đội đua phải vận dụng kỹ thuật đôi khi cả mánh khóe để ghe lướt nhanh hơn đối thủ.
< Chạy thật nhanh cầm mái chèo về điểm xuất phát để giành giải.

Đối tượng tham gia lễ chủ yếu là thanh niên nam nữ các phường xã thuộc các huyện và thành phố cũng ra sức đua tài trên sông Hương. Các người lớn tuổi và trẻ em thì ra sức cổ vũ nên không khí cuộc đua bao giờ cũng sôi nổi, hào hứng.
< Ban tổ chức trao giải cho các đội chiến thắng tại hội đua. Hội đua ghe do UBND TP.Huế phối hợp với Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Thừa Thiên – Huế tổ chức.
< Đông đảo người dân chen nhau xem hội đua ghe. Lễ hội đua ghe truyền thống là hoạt động cuối cùng trong chuỗi hoạt động lễ hội cộng đồng tại Festival Truyền thống Huế 2011 trước khi lễ bế mạc diễn ra vào tối 3/5.

Nếu các cuộc đua ghe ở các làng mạc xa xưa có ý nghĩa và mục đích để cầu mưa thuận gió hòa thì cuộc đua ghe truyền thống hiện nay không giữ lại mục đích đó, mà dịp để tỏ lòng hân hoan và thi tài thể lực nhân ngày Quốc Khánh.

Lễ hội này vẫn còn được tổ chức, đem lại nguồn vui cho cả vận động viên lẫn dân chúng trong tỉnh.

Du lịch, GO! - Theo cổng thông tin ThuathienHue, ảnh VnExpress