Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thắng cảnh tâm linh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 18 tháng 5, 2011

Tháp cổ Vĩnh Hưng

Tháp cổ Vĩnh Hưng tọa lạc tại ấp Trung Hưng 1, xã Vĩnh Hưng A, huyện Vĩnh Lợi, cách TP.Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu khoảng 20km.

Tháp được liệt kê vào danh mục các di tích kiến trúc Khmer, với tên gọi tháp Trà Lòng và đã được nhà cầm quyền lúc đó xếp trong danh mục di tích lịch sử ở Nam Kỳ.

Tháp còn có tên gọi khác như: Bhah Dha, Lục Hiền... Theo tư liệu, tháp cổ Vĩnh Hưng được một nhà khảo cổ người Pháp phát hiện vào năm 1911, có số hiệu 902. Tháp thờ một vị vua Khmer có tên là Yacovar - Man.

Vào thế kỷ 20, các nhà khảo cổ học đã phát hiện tấm bia khắc chữ Phạn ghi rõ tháng 814 tương ứng với năm 892 (sau CN) ở chùa cạnh tháp. Tháp được xây dựng trên diện tích hơn 1.000m2. Bình diện chân tháp hình chữ nhật với hai cạnh là 5,6m và 6,9m, chiều cao của Tháp còn lại 8,2m (đỉnh Tháp đã bị sập), nóc cao uốn thành vòm với một cửa chính của Tháp quay về hướng tây. Toàn bộ ngôi Tháp được xây dựng bằng gạch.

 < Những hiện vật trong tháp cổ.


Trong tháp có một bàn tay tượng thần bằng đồng; một phần thân dưới của tượng nữ thần; tượng nữ thần bằng đá xanh; tượng nữ thần Brahma mặt bằng đồng; đầu tượng Phật bằng đồng... và một số vật thờ khác.

Những lần khảo sát và thăm dò, các nhà khảo cổ đã tìm thấy những mảnh gốm thuộc nền văn hóa Óc Eo và những tượng đồng - đặc biệt có tượng bốn mặt.

Lý thú hơn cả là lần khai quật gần đây nhất (3/2002), các nhà khảo cổ đã phát hiện nhiều tượng đồng đặc biệt quý hiếm, bên cạnh đó còn có những tấm ngói còn nguyên vẹn hoa văn.

Mặc dù chưa công bố kết quả, nhưng những bức tượng ấy khó tìm thấy ở đâu đó, dù trong những quyển sách nói về tượng cổ.

Mỗi ngày có rất nhiều du khách, các nhà nghiên cứu đến tham quan tháp, nhưng đông nhất là ngày 15 tháng giêng âm lịch, nhân dân địa phương tổ chức giỗ lớn tại tháp.

Để chiêm ngưỡng Tháp cổ, du khách đi đường quốc lộ 1A hướng Bạc Liêu - Cà Mau, khoảng 5km đến cầu Sập, rẽ phải theo lối vào chợ Vĩnh Hưng A, là đến tháp Vĩnh Hưng.

Du lịch, GO! - Theo Datmui online

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2011

Chùa Sà Lôn - nét đặc sắc của văn hóa Kh’mer Nam bộ

Đến Sóc Trăng theo các tour du lịch tâm linh, ngoài viếng các chùa: Dơi, Đất Sét, Klêlang bạn không thể không viếng chùa Sà Lôn (còn gọi chùa Chén Kiểu) nằm trên Quốc lộ 1A, cách thị xã Sóc Trăng 12km về hướng Tây, hướng từ thị xã Sóc Trăng đi Bạc Liêu.

Nét đặc sắc ở ngôi chùa là sử dụng những mảnh bát (chén), đĩa sứ ốp lên tường trang trí cho ngôi chùa, bởi vậy chùa còn được gọi là chùa Chén Kiểu.
Thuở ban đầu chùa được dựng bằng cây và lá rừng. Trong thời kỳ chiến tranh, ngôi chánh điện bị sập do bom đạn tàn phá. Chùa được dựng lại năm 1969, đến năm 1980 hoàn thành.
Kỹ thuật ốp sứ độc đáo đã tạo nên vẻ đẹp riêng rất ấn tượng của ngôi chùa. Tại chùa Sà Lôn còn lưu giữ một bộ sưu tập đồ gỗ quý hiếm được chạm, khảm rất tinh tế, nhà chùa mua lại trong phần gia sản của công tử Bạc Liệu năm 1947.

Cột chùa chạm nhiều hoa văn, đường viền độc đáo. Hai bên cổng ngự, hai con sư tử bằng đá trên bệ cao, hướng ra lộ. Trên cổng xây ba ngôi tháp, được chạm khắc, đắp nổi biểu trưng cho văn hóa truyền thống Khmer. Đặc biệt, trong lòng tháp chính giữa lồng một tấm kính, nổi bật tượng phật ngồi uy nghi, như hiện hữu an lành ở chốn cảnh chùa.

Cũng như các ngôi chùa khác của người Khmer, mái nóc chùa Chén Kiểu có ba nếp, nếp dưới cùng lớn và nhỏ dần khi vút lên cao. Nếp phía trên có hình tam giác, hai đầu đao mỗi bên cong nguy nga. Mỗi nếp trang trí nhiều họa tiết và các tượng Khmer mang ước vọng bình yên, siêu thoát. Mặt sau chính điện là một mảng tường đắp nổi bởi nhiều mảnh chén kiểu vỡ đẹp mắt và sắc sảo.
  Your Ad Here
Bước vào gian thờ chính điện, sẽ thấy quần thể gồm 20 tượng phật lớn, nhỏ đứng ngồi nhiều tư thế khác nhau. Tất cả được bố trí hợp lý, không gian tôn nghiêm luôn thơm mùi nhang khói.

Theo một vị sư trụ lâu năm tại đây thì chùa Chén Kiểu trước kia được cất bằng lá, có tên Khmer là "Sà Lôn". Chùa được xây cất vào năm 1815 trên nền đất rộng. Thập niên 60, chùa bị bom đạn phá hư hại và được xây lại như hiện trạng ngày nay.

Phần sau chính điện vì thiếu kinh phí nên được các nghệ nhân sử dụng mảnh vỡ chén kiểu đắp vào. Chùa có tên Chén Kiểu từ đó. Hiện nay ngoài tín đồ phật tử là đồng bào Kh’mer, chùa Chén Kiểu còn thu hút đông đảo khách du lịch tâm linh từ khắp mọi miền đổ về hành hương trong những dịp lễ vía Phật. Ngoài thắp hương cho lòng thanh thản còn được viếng cảnh chùa, xem nghệ thuật điêu khắc của nghệ nhân Kh’mer Nam bộ.

Du lịch, GO! - Theo Binhthuan online

Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011

Văn Thánh miếu Cao Lãnh

Ai đã một lần đến thăm Văn Thánh miếu chắc không khỏi ngỡ ngàng, vì nơi vùng đất mới khai phá của châu thổ sông Cửu Long, lại có một công trình văn hóa thờ đức Khổng Tử, có cách nay gần 150 năm.

Văn Thánh miếu đầu tiên được xây dựng tại thôn Mỹ Trà, Tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong, tỉnh Định Tường (nay thuộc phường 3, thành phố Cao Lãnh-Đồng Tháp) do Hồ Trọng Đính là quan Tri Phủ huyện Kiến Tường đề xướng và đứng ra xây cất.

Khởi công xây dựng từ ngày 4/6 âm lịch năm Đinh Tỵ (1857) đến ngày 28/10 cùng năm thì hoàn tất. Văn Thánh miếu lúc bấy giờ giữa chính điện đặt bàn thờ to rộng, trên bàn thờ bài vị sơn son thếp vàng đề danh hiệu Đức Khổng Tử là Vạn Thế Sư Biểu. Tả hữu là bài vị của tứ thánh (Tăng Tử, Nhan Hồi, Tử Tư và Mạnh Tử). Còn bên tả vu, hữu vu thì thờ tiền hiền và hậu hiền, trên cột có treo nhiều câu liễn.

Năm Mậu Dần 1878, Văn Thánh miếu được dời đến vị trí hiện nay (đường Lý Thường Kiệt, phường 1, thành phố Cao Lãnh) và được tái thiết với qui mô bề thế. Khoảng từ năm 1935 đến năm 1940, Văn Thánh Miếu được trùng tu, việc thờ phượng được sắp xếp lại trong chính điện tả vưu làm thư viện, hữu vưu làm nơi hội họp. Tại đây, một hội tao đàn được thành lập, tập hợp những người ham chuộng thơ văn để xướng họa, luận bàn đạo lý phương Đông, tìm ra phương hướng bảo tồn tinh hoa của Nho học đang bị chao đảo trước sự du nhập của nền văn hóa phương Tây. Năm 1951 do hoàn cảnh chiến tranh, Văn Thánh miếu ngưng hoạt động và hoang phế từ đó.
  Your Ad Here

Việc ra đời Văn Thánh miếu Cao Lãnh là sự kiện văn hóa lớn của địa phương nhằm khuyến khích mọi người tham gia học tập, nâng cao trí thức, đào tạo nhân tài cho xã hội đồng thời khôi phục, bảo tồn những tinh túy của Nho học, đã ảnh hưởng sâu sắc vào nền văn hóa và tâm tưởng con người Việt Nam qua nhiều thế hệ.

Ngày nay, Văn Thánh miếu là di tích lịch sử của tỉnh. Nơi đây được chọn làm thư viện tỉnh để lưu trữ và phổ biến kho tàng tri thức của nhân loại. Trong xu thế hòa nhập, mở cửa để phát triển kinh tế, văn hóa xã hội nhằm đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, Văn Thánh miếu sẽ phát huy tốt hiệu quả trong giáo dục truyền thống cho các thế hệ, góp phần đẩy mạnh khuyến học, đào tạo nhân tài phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng đất nước ngày càng văn minh, tiến bộ và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Du lịch, GO! - Theo NTO, ảnh internet

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2011

Nhóm đền tháp Chăm Pô Dam

Nhóm đền tháp chăm Pô Dam (còn gọi là Pô Tằm) tọa lạc dưới chân núi Ông Xiêm, thuộc địa phận xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong có niên đại nửa cuối thế kỷ VIII – đầu thế kỷ IX.

Từ Phan Thiết đi ngược ra phía Bắc, qua ngã ba Liên Hương trên QL1A chừng hơn 1km, bên trái đường có cây xăng Đại Hòa, từ đây có 2 cách đi vào khu tháp :

1-Từ Nam ra Bắc, ngay trước cây xăng Đại Hòa là một cây cầu nhỏ trên QL1A, rẽ trái vào con đường đất ngay đầu cầu, đi vòng vèo trong xóm chừng 5km là chạm đường sắt Bắc Nam. Đường nhỏ và vòng vèo nhưng không khó đi, vì ít lối rẽ, chui qua bên dưới đường sắt, rẽ tay phải theo đường mòn vài trăm met là đến chân núi Ong Xiêm, đến đó là trông thấy cụm tháp nằm trên sườn núi, cao hơn mặt đường mòn chừng 10m.

2- Từ cây xăng Đại Hòa chạy tiếp ra phía Bắc trên QL1A chừng 1km, đến một quãng khá trống hai bên là cánh đồng cỏ cháy, bên phải ngay sát vệ đường có một quán nước nhỏ đứng trơ trọi. Đối diện quán nước nhỏ ấy ở bên trái QL1A là một con đường đất chạy vào giữa đồng cỏ khá trống trải.

Cứ theo đường ấy chạy vào phía núi không rẽ ngang theo bất cứ đường nhỏ nào khác - gần như thẳng tắp. Nó đâm vào chạm đường sắt Bắc Nam, vượt qua đường sắt, rẽ trái chừng vài trăm met cũng đến chân núi Ông Xiêm.

Đi theo cách thứ nhất, đến tháp từ hướng Nam, đi theo cách thứ 2, đến tháp từ hướng Bắc.

Cách thứ 2 đường đi đơn giản hơn nhiều, nhưng dễ nhầm đường rẽ trên QL1A (vì sau này có thể cảnh quan thay đổi, nhà cửa quán xá nhiều lên), còn đi theo cách 1 thì đường nhỏ, ngoằn ngoèo hơn nhiều, nhưng lỗi rẽ trên QL1A thì khó lẫn.

Cụm tháp Pô Đam khác biệt với các cụm tháp Chăm khác về hướng - nằm trên 2 trục song song, theo hướng Bắc - Nam chếch một chút về phía Tây (mặt các tháp hướng về phía Nam, chếch Tây khoảng 15 độ), thực tế là nàm dọc theo triền núi, chứ không phải tựa lưng vào núi trông mặt ra biển. Nhóm đền tháp này bao gồm 6 tháp, hiện nay chỉ còn lại 3 tháp tương đối nguyên vẹn, còn 3 tháp khác bị sụp đổ. Nhóm tháp Bắc còn lưu giữ bệ thờ Linga-Yoni bằng đá xanh tượng trưng cho thần Shiva với hình dáng và kết cấu giống như ở Pôshanư nhưng nhỏ hơn nhiều.
  Your Ad Here

Nhóm tháp Nam gồm 3 tháp khác với nhóm Bắc từ kỹ thuật xây dựng, trang trí nghệ thuật và nội dung thờ phụng. Nhóm Bắc được xây dựng để thờ vua Pô Dam, vị vua trị vì Vương quốc Chămpa từ 1433-1460. Vị vua này có công giúp dân làm các hệ thống thủy lợi nổi tiếng trong vùng, hiện nay còn phát huy tác dụng ở vùng Tuy Phong, Bắc Bình.

Thông thường các tháp Chăm thường xây cửa chính trở về hướng Đông nhưng nhóm tháp Pô Dam tất cả các cửa đều quay về hướng Nam. Điều đặc biệt khác là cả 6 tháp trong nhóm tháp Pô Dam đều nhỏ và thấp hơn các tháp chăm khác (cao nhất 7- 8 m, mỗi cạnh đáy 3-3,5 m). Kỹ thuật xây dựng và nghệ thuật trang trí tập trung chủ yếu ở tháp chính (tháp C nhóm Bắc).

Tháp Pô Dam là nơi thực hiện nghi lễ thờ cúng Vua Chăm hằng năm của người Chăm Phú Lạc và các vùng lân cận. Hiện những dòng tộc là hậu duệ của vua còn lưu giữ 8 sắc phong do các vua thời triều Nguyễn phong tặng Vua Pô Dam. Di tích này đã được Nhà nước xếp hạng kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

Tháp Pô Đam là một trong số ít các cụm tháp Chăm hiện còn, mang tên một vị vua Chăm (cùng với tháp Pô KlongGiarai, tháp Pô Romé).

Do không còn một bia ký nào, nên các nhà nghiên cứu đánh phải dựa vào phương pháp so sánh phong cách nghệ thuật để xác định niên đại cho tháp Pô Đam. Ở cụm tháp này, ngôi tháp trung tâm có hình dáng cấu trúc và các trang trí giống với các tháp Hòa Lai (khá giống với tháp Mỹ Sơn C7), nên người ta xếp cụm tháp Pô Đam vào nhóm thuộc phong cách Hòa Lai, tức là niên đại ở vào khoảng cuối thế kỷ VIII, đầu thế kỷ IX.

Tuy nhiên, trong truyền thuyết Chăm, Pô Đam là vị vua xuất hiện muộn - một truyền thuyết nói ông là con của vua Parachanh, tức La Ngai (vị phó tướng của Chế Bồng Nga khi tiến đánh Đại Việt hồi thế kỷ XIV)

Với các mốc thời gian chênh lệch nhau rất xa như vậy, chính các nhà Chăm học đương thời cũng chưa tìm ra được lời giải đáp hợp lý, nên người ta ... đành cho rằng, có thể khu tháp được xây dựng từ cổ xưa (chưa rõ do ai xây) và sau này được dùng thờ phụng Pô Đam (việc này có thật cho đến nay).
Thậm chí người Chăm hiên nay còn cho rằng, Pô Đam và những người họ hàng thân cận được mai táng tại đây.

Do người Chăm không có chép sử chi tiết như người Việt hay người Trung Hoa, sử của họ thường là ở dạng bia ký và truyền thuyết, vì thế, có nhiều truyền thuyết đúng là ... truyền thuyết, vì các mốc thời gian đôi khi rất vô lý. Hơn nữa, các ngôi tháp Chăm ở Nam Trung bộ thường có các truyền thuyết về việc xây dựng tháp. Ở khu tháp Pô Đam cũng vậy, truyền thuyết về tháp Pô Đam không những thế còn liên quan đến tháp Pô KlongGiarai nữa.

Truyền thuyết nói rằng: Khi vua Pô Klong GiaRai được mọi người tôn lên làm vua, Pô Đam - lúc đó là quan đại thần - không phục, cho rằng ngài chỉ là một tên chăn bò (sẽ nói kỹ về truyền thuyết này ở mục Tháp Pô KlongGiaRai).

Nhà vua bèn thi tài xây tháp với đại thần Pô Đam, và cuối cùng ngài thắng, xây lên một khu tháp to lớn đồ sộ (trong truyền thuyết này, đó chính là khu tháp Pô KlongGiaRai), còn Pô Đam chỉ xây được một khu tháp nhỏ hơn nhiều, và xong sau - chính là khu tháp Pô Đam.

Dĩ nhiên cái truyền thuyết ấy có nhiều điểm vô lý, vì khu tháp Pô KlongGiaRai được xác định có niên đại thế kỷ XIII - dựa vào bia ký tìm thấy ở đó, và cả trên những dòng chữ khắc trên trụ cửa tháp - còn tháp Pô Đam niên đại sớm hơn nhiều. Nhưng có lẽ người Chăm không quan tâm đến điều đó, truyền thuyết vẫn phải mang tính ... truyền thuyết.

Du lịch, GO! - Theo báo Thái Bình + Phuot.com

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

Chùa Đất Sét – Ngôi chùa độc nhất vô nhị ở Việt Nam

Chùa Đất Sét còn có tên là Bửu Sơn tự, tọa lạc tại đường Tôn Đức Thắng, P.5, TP Sóc Trăng, được thành lập từ những năm đầu thế kỷ 20, đến nay đã trên 100 năm. 
Từ một am nhỏ cất bằng tre lá, qua nhiều lần trùng tu của gia đình họ Ngô, chùa đã có được kiến trúc như hiện nay. Đến đây, du khách sẽ ngạc nhiên khi tận mắt chứng kiến trên 1.800 pho tượng Phật lớn nhỏ, lư hương và tượng các linh thú... đều làm bằng đất sét. Ngoài ra, ngôi chùa còn được biết đến với tám cây đèn cầy cao 2,5 ~ 2,6m, cân nặng tổng cộng 1,4 tấn.

NGƯỜI NÔNG DÂN TÀI HOA VÀ CÔNG TRÌNH CÓ MỘT KHÔNG HAI

Theo lời kể của con cháu họ Ngô – Chùa Đất Sét (Bửu Sơn Tự) là ngôi chùa của gia tộc họ Ngô được xây đầu thế kỷ XX. Lúc ban đầu, chùa được cất bằng những vật liệu đơn sơ sẵn có tại địa phương như cây, tre, lá. Nên chùa dễ bị hư hại, mục nát phải thường xuyên tu bổ.

Năm 1928, Ông Ngô Kim Tòng nằm mơ thấy Phật đến chỉ bảo cho ông đi về hướng Tây để lấy đất sét về xây đắp tượng mà thờ. Tỉnh dậy ông quyết làm theo lời Phật dạy. Ông lấy đất sét, phơi thật khô, sau đó giã nhuyễn, lọc bỏ tạp chất rồi trộn với những chất keo tự nhiên tạo thành hỗn hợp dẻo, thơm. Để tạo hình, ông dùng lưới kẽm, cây gỗ dựng khung, lấy vải màn bao lại mới đắp đất lên, rồi dùng kim nhũ, dầu bóng phủ lên.

Sau 42 năm (1928 – 1970) người nông dân chưa hề học qua điêu khắc, chỉ với đôi tay khéo léo, tài hoa và tấm lòng thành luôn hướng về Phật, cộng với sức lao động bền bỉ phi thường, ông đã tạo ra hàng ngàn bức tượng Phật và hình khối với những họa tiết vô cùng tinh xảo toàn bằng đất sét. Nào là tượng A Di Đà, Thích Ca, Quan Thế Âm Bồ Tát, Khổng Tử... Ngoài ra còn có lư hương và các hình thú như: Kim Lân, Thanh Sư, Bạch Tượng, Bạch Hổ, Long Mã.
  Your Ad Here

Trong số những công trình làm bằng đất sét trong chùa, có ba công trình được đánh giá cao nhất về ý tưởng, cách tạo hình, sự kỳ công:

Đầu tiên phải kể đến tòa Đa Bảo 13 tầng, 208 cửa, 208 vị Phật, 156 con rồng uốn khúc chầu quanh đỡ mái tháp. Đây là công trình đòi hỏi kỹ thuật cao, nghệ thuật tinh tế. Tiếp sau đó là Bảo Tòa trụ thế chuyển pháp luân, trên có đài sen gồm 1.000 cánh hoa sen, 1.000 vị Phật với nhiều sắc thái biểu cảm khác nhau.
Tác phẩm cuối cùng của ông và được nhiều nhà khoa học đánh giá cao là cây đèn được gọi là Lục Long Đăng, treo trên trần ngay giữa chính điện. Lục Long Đăng gồm 3 chóp đỉnh với 6 con rồng lớn uốn cong, đuôi chụm vào nhau, đầu trổ ra các phía. Đáy đèn là một bông sen nâng đỡ. Thiết kế chi tiết tinh vi, lại có trọng lượng khá nặng, vậy mà treo gần thế kỷ qua, nó hầu như không biến đổi.
NHỮNG CÂY NẾN CHÁY TRĂM NĂM

Những năm cuối đời, ông tạm ngừng đắp tượng, tiến hành đúc nến. Ông Ngô Kim Tòng đã mua sáp nguyên chất từ Sài Gòn về, nấu chảy ra rồi mới đúc nến. Do các cây nến này có kích thước quá to, không có khuôn nào đúc, nên ông Tòng đã dùng tôn lợp nhà làm khuôn đúc. Ngày nay ta nhìn thấy các gợn sóng quanh thân nến chính là các rãnh trên tấm tôn ngày xưa.

Lao động cật lực trong nhiều tháng thì 8 cây nến hoàn thành. Trong đó: 6 cây lớn (3 cặp), mỗi cây nặng 200 kg cao 2.5m, đường kính 0.5m, ước tính mỗi cặp sẽ cháy liên tục hơn 70-80 năm và hai cây nhỏ mỗi cây nặng 100 kg, cao 1.3m, đường kính 0.5m.
Năm 1970, ông Tòng qua đời và 2 cây nến được thắp lên. 41 năm qua, hai cây nến nhỏ nhất vẫn chưa cháy hết (còn cháy được khoảng 5 năm nữa) Điều đặc biệt là trong suốt hơn 40 năm, hai ngọn nến này chưa một lần bị tắt vì bất cứ nguyên nhân gì, kể cả khi bão thổi bay mái chùa hay nước ngập trong lòng chùa đến đầu gối.

Gần nửa thế kỷ qua, những du khách và cả những nhà khoa học khi đến đây đều kinh ngạc, không thể lý giải nổi tại sao một con người xuất thân từ nông dân, chỉ mới học hết lớp 3 và không hiểu biết gì về nghệ thuật hội họa hay điêu khắc lại có thể tạo nên cả một công trình công phu, tinh xảo, độc đáo đến vậy.

Du lịch, GO! - Theo Datmui online

Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2011

Một ngày ở chùa Trăm Gian

Quảng Nghiêm tự còn được gọi bằng những cái tên giản dị, đậm chất dân gian như chùa Sở, chùa Núi, chùa Tiên Lữ... nhưng có lẽ được biết đến nhiều nhất là chùa Trăm Gian, tọa lạc tại xã Tiên Phương, huyện Chương Mỹ, trước đây thuộc tỉnh Hà Tây, nay là Hà Nội.

Từ thành phố Hà Đông theo quốc lộ 6, qua cầu Mai Lĩnh và phía sau thị trấn Chúc Sơn, đi thêm chừng 2km thì rẽ phải, men theo chân núi Sở khoảng 3km sẽ tới chùa Trăm Gian. Chùa được xây dựng từ thời nhà Lý và đã qua nhiều lần trùng tu.

Trải qua đoạn đường dài nóng nực, dừng lại trước ao sen, mùi hương sen, cùng với những cơn gió đầu ngày sẽ giúp bạn quên đi cái mệt mỏi ngày thường. Cổng chùa được xây hai trụ lớn tạo một lối đi ở giữa, hai bên là hai tường nối với hai trụ nhỏ.

Qua cổng là một sân gạch có hai dãy hành lang ở hai bên, cuối sân là con đường lên chùa, ngôi chính điện thấp thoáng giữa những rặng thông cổ thụ. Cuối đường gạch, phía bên phải lên nhà bia kỷ niệm, đi theo phía bên trái đến tam quan và gác chuông.

Tam quan nằm trên trục tâm của khu Tam bảo, gác chuông chùa Trăm Gian là một trong số ít gác chuông cổ còn lại đến nay, có nhiều hình chạm rồng xen lẫn mây lửa với kiến trúc mặt bằng vuông, hai tầng tám mái với nhiều hoa đao uốn hắt lên khiến công trình như một bông sen khổng lồ thanh thoát.

Phần cổ diêm lắp lan can chấn song con tiện, tạo cho bên trong thoáng mát. Ở đây treo quả chuông lớn mang tên Quảng Nghiêm cổ tự đúc năm Cảnh Thịnh 2 (1794) là điển hình của chuông đồng thời Tây Sơn.
  Your Ad Here

Từ tam quan - gác chuông đi theo trục tâm qua khoảng sân hẹp, vượt 27 bậc đá lên sân chùa, giữa sân kê chiếc sập đá có đặt một bát hương. Leo tiếp thêm 7 bậc đá nữa, bạn sẽ lên đến thềm chùa, hoặc đi theo lối trái sân theo đường dọc hành lang để vào sân trong của chùa với các khu nhà phụ (nhà khách, phòng tăng...) rồi lên khu Tam bảo từ phía sau nhà hậu đường.

Khu trung tâm chùa có các tòa nhà tiền đường, thiêu hương và thượng điện kết hợp với nhau thành một nội thất thống nhất, dãy hành lang dài ở hai bên ăn thông với tiền đường ở phía trước và hậu đường ở phía sau, quây lại thành một kiến trúc khép kín.

Ngoài ra, khoảng sân sau thượng điện trước hậu đường dựng tòa Phương đình treo cả trống và khánh, cũng là chỗ cho du khách nghỉ chân ngắm cảnh xung quanh. Từng ấy công trình ở hai khu chính và phụ gắn bó với nhau theo hai không gian đạo và đời, khác nhau nhưng lại hòa quyện thống nhất dàn khắp đỉnh đồi.

Khu trước hoàn toàn là kiến trúc tôn giáo, phục vụ đời sống tâm linh, được quây kín, những hệ thống của bức màn phía trước thượng điện có thể đóng hoặc mở tùy ý, các khoảng sân ở trước các dãy hành lang và trước tòa Phương đình tuy đóng ngang nhưng lại mở dọc, có thể thông với nhau qua các cửa.

Nếu tính gian (gian nhà) theo kiểu truyền thống được phân ra bởi các vì kèo, thì tòa tiền đường 7 gian, trong khi đó cùng chiều dài nhưng hậu đường bố trí thành 9 gian. thượng điện chỉ 3 gian nhưng mái trước kéo dài, có tường bên kéo thẳng sang tiền đường.

Chùa Trăm Gian ngoài thờ Phật còn thờ đức thánh Bối, ở đây hiện ghi là: “Đại thánh Khai sơn Bình đẳng Hành nghĩa tín Bồ tát”. Khu thờ thánh không xây riêng mà quây ván bưng bên trái thượng điện, cũng gọi là cung thánh, chỉ nhà sư được vào hành lễ.

Trong số tượng hậu Phật, chùa Trăm Gian nổi lên tượng Đô đốc Đặng Tiến Đông - một quan võ ở thời Tây Sơn, sau chiến công đánh thắng quân Thanh đầu xuân Kỷ Dậu (1789) đã về quê đóng góp vào việc tu bổ chùa, được tạc tượng chân dung thờ ở chùa ngay khi còn sống, tương truyền giống đến mức khi bước vào chùa, người xem không phân biệt được người hay tượng.

Ngoài ra, chùa Trăm Gian còn có một số hiện vật thuộc loại hiếm quý. Đó là rồng đá thời Trần làm lan can thành bậc cửa chùa, có thân dài mập nhưng ghép đầu rồng thời Nguyễn. Đó là những viên gạch thời Mạc được xây bệ tượng Tam thế, nhiều viên chạm chim thần và các con thú rất sinh động. Đó cũng là bộ tranh La hán và tranh Thập điện được chạm nổi có kết hợp vẽ…

Theo người trong chùa, chùa nằm trên núi Sở là con ngựa, cạnh đó có núi So là con hổ, các gò đồi xung quanh có các tên là con Mộc, con Hỏa, con Long… Tất cả đã tạo cảnh quan văn hóa hội xuân chơi núi, chơi hang. Chùa trải rộng trên quả đồi cao 50m, tứ bề được bao bọc bởi núi đá. Hướng nam, song cổng mở đầu là hướng đông - nam để giáp đường đi tiện cho du khách thăm chùa.

Tới thăm chùa Trăm Gian, bạn thỏa sức ghi lại những hình ảnh vui chơi của mình dưới nền ảnh phủ một màu xanh của thông, của sấu, của ngói đỏ đã bạc màu vì năm tháng. Không gian tĩnh mịch, những sư thầy lặng lẽ dọn chùa và những “mục tiểu linh đồng” tóc để chỏm khiến bạn cảm thấy lưu luyến khi chuẩn bị rời xa chốn này. Những cây thông cổ thụ cao vút, những mái chùa cong cong hàm rồng, hương sen thơm ngát sẽ còn theo bạn cho đến suốt quãng đường trở về …

Du lịch, GO! Theo Thời báo kinh tế Sài Gòn, internet

Đình làng Thủ Lễ - Một di tích kiến trúc nghệ thuật tiêu biểu ở Huế

Huế có 2 ngôi đình gắn liền với lễ hội vật ngày xuân đó là đình làng Lại Ân gắn với vật Sình và đình Thủ Lễ gắn với vật Sịa. Hàng năm, cứ vào ngày mồng 6 tháng Giêng, tiếng trống khai hội vật Thủ Lễ lại thúc giục những làng quê náo nức vào hội. Sân đình làng Thủ Lễ cũng là sới vật ngày xuân để các chàng trai khoẻ mạnh cùng đua sức, đua tài trong hội vật.

Làng Thủ Lễ- thị trấn Sịa- huyện Quảng Điền là một làng cổ vùng đồng bằng gần với phá Tam Giang. Lịch sử của làng Thủ Lễ gắn liền với lịch sử ra đời của vùng Sịa. Cũng như bao làng quê khác, cùng với sự hình thành của làng, hệ thống kiến trúc đình- chùa ra đời. Các công trình này dù lớn hay nhỏ cũng đều là sản phẩm của sự đóng góp chung trong cộng đồng dân cư từ những buổi đầu lập ấp dựng làng. Đến nay chưa có tài liệu nào nói rõ năm tháng hình thành làng Thủ Lễ cũng như thời gian xây dựng và kiểu dáng của đình Thủ Lễ. Chỉ biết rằng đình Thủ Lễ đã trải qua 3 lần trùng tu, lần trùng tu thứ 3 là vào năm 1893 tức năm Thành Thái thứ 2.

Đình làng Thủ Lễ nằm ở trung tâm của làng. Trải qua bao biến thiên của lịch sử nhưng kiến trúc của ngôi đình này vẫn còn như nguyên vẹn gồm 5 gian, 2 chái, hai phía tả hữu của khuôn viên đình là 2 nhà tăng.

Trước đình là khoảng sân rộng, với bức bình phong, hồ sen và tứ trụ biểu nhìn ra cánh đồng trước mặt. Ngôi đình làng Thủ Lễ là biểu tượng sức mạnh của một làng quê giàu truyền thống văn vật, là ngôi nhà chung của một cộng đồng làng.
  Your Ad Here
Nhờ vậy mà tình làng nghĩa xóm, sự đoàn kết của mọi người dân trong làng đã được giữ gìn như một nếp sống truyền thống của dân làng Thủ Lễ. Cũng như bao làng quê khác, người dân làng Thủ Lễ đã sống trong phong cảnh hài hoà của ngôi đình, cây đa bến nước, luỹ tre làng…

Đó cũng là chứng tích hồn thiêng của một làng quê, là di sản văn hoá truyền thống của dân tộc trên một vùng đất cụ thể mà biết bao thế hệ đã cống hiến máu xương và công sức để vun đắp nên.

Đình làng Thủ Lễ là một di tích kiến trúc nghệ thuật khá tiêu biểu ở Huế, có niên đại xây dựng tương đối sớm với nhiều giá trị đặc sắc.

Đây là một nguồn sử liệu vật chất trực tiếp, một dấu ấn văn hoá sâu đậm góp phần đáng kể vào việc tìm hiểu kiến trúc gỗ dân gian truyền thống thế kỷ 19. Mang phong cách nhà rường Huế, với kiểu dáng quy mô, kỹ năng mỹ thuật, các đồ án trang trí theo lối nghệ thuật đặc trưng thời Nguyễn.

Những đề tài trang trí trong kết cấu gỗ của đình làng Thủ Lễ với những nét sáng tạo, cách tân, giàu tính nhân văn nói lên nguyện vọng thiết thân của cư dân nông nghiệp cầu mưa thuận gió hoà, vật lực phồn thịnh, nước nhà yên ổn…

Hiện nay, tại ngôi đình này còn lưu giữ nhiều hiện vật quý đó là: một khánh đá dùng để làm hiệu lệnh tập họp dân làng; phiến đá bùa dùng để yểm các loại ôn dịch cầu mong cho dân làng bình an, làm ăn phát đạt, 57 sắc phong của các vua nhà Nguyễn từ thời Minh Mạng đến thời Bảo Đại…

Với trên 200 năm tồn tại, đình làng Thủ Lễ vẫn còn lưu giữ hệ thống kiến trúc cùng với những văn bản, hiện vật quý hiếm phản ánh mối quan hệ mật thiết trong tổng thể các công trình kiến trúc triều Nguyễn. Đình làng Thủ Lễ với những giá trị lịch sử của mình còn là chiếc cầu nối để giữ gìn một hành lang đô thị cổ: Thành Hoá Châu, Phủ Phước Yên, thị trấn Sịa… góp phần tô đậm thêm truyền thống văn hoá lịch sử của một huyện lỵ Quảng Điền.

Du lịch, GO! - Theo Festivalhue

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2011

Vãn cảnh chùa Bút Tháp

Nằm ven dòng sông Đuống trù phú quanh co uốn lượn, với những bãi ngô, bãi dâu xanh mướt trải rộng, chùa Bút Tháp có tên chữ là Ninh Phúc tự, thuộc địa phận xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.

Đây được xem là một trong số ít những ngôi chùa cổ ở Việt Nam còn giữ được khá nguyên vẹn và hoàn chỉnh lối kiến trúc sơ khai ban đầu, là địa chỉ hành hương của phật tử bốn phương.

Tương truyền chùa Bút Tháp có từ thời Trần (thế kỷ 13-14), được mở rộng vào thời Lê (thế kỷ 17) và phát triển mạnh vào thời Nguyễn (thế kỷ 18). Với lối kiến trúc “nội công, ngoại quốc” chùa Bút Tháp gồm các tòa: Tam quan, Tiền đường, Thượng điện, nhà Tích thiện am và tả, hữu hành lang, bao quanh là các hành lang, giải vũ. Toàn bộ nền móng được dựng bằng đá tảng rất vững chắc. Các tòa kiến trúc đồ sộ liên kết với nhau hài hòa, tạo thế liên hoàn, mái đao cong vút.

Như mọi ngôi chùa thông thường khác, tòa tiền đường có bày tượng Cửu Long, Già Lam ở giữa, tượng Hộ pháp hai bên. Hai pho Hộ pháp khá lớn nhưng tòa Cửu Long thì nhỏ, không đặc sắc. Tâm điểm của chùa Bút Tháp là pho tượng cổ Quan Âm nghìn mắt nghìn tay đẹp nhất Việt Nam được tạc từ 350 năm trước (với 42 cánh tay lớn và 958 cánh tay nhỏ).

Dù thời gian đã làm tróc lớp sơn, thếp vàng trên tượng nhưng không làm mất đi sự duyên dáng của từng cánh tay, trên nét mặt thanh thản của Phật bà, của vầng hào quang tạo bởi nghìn cánh tay và nghìn con mắt. Đây là hiện thân của sự thấu hiểu nỗi khổ và cứu độ chúng sinh trong Phật pháp.

Hệ thống cổ vật cùng đồ thờ và tượng thờ cổ mang nhiều giá trị độc đáo về mỹ thuật, điêu khắc và giá trị nhân văn; đạt đến sự điêu luyện, tinh xảo, tinh tế trong nghệ thuật điêu khắc dân gian. Trong đó, pho tượng Quan thế âm nghìn mắt nghìn tay được coi là bảo vật quốc gia của Việt Nam. Hàng trăm gian liên hoàn, các tòa ngang, dãy dọc thể hiện kỳ công của nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc... chùa Bút Tháp còn được xem là một đại danh xứ Bắc xưa nay.
  Your Ad Here
< Tòa tháp Bảo Nghiêm.

Điều đặc biệt, độc đáo của ngôi chùa mà không đâu trên đất nước ta có được, đó chính là ngọn bảo tháp bằng đá cao lớn, uy nghiêm, vươn lên trời xanh, có tên là tháp Bảo Nghiêm, nổi bật hẳn giữa vùng đồng bằng rộng lớn. Tháp cao 13,05m, hình dáng tựa một cây bút với 5 tầng và 5 góc, mỗi góc có gắn một quả chuông bằng đồng nhỏ. Xung quanh tháp được trang trí hoa văn sinh động và độc đáo.

Tháp Bảo Nghiêm là nơi chứa đựng tro cốt nhục thân (xá lỵ) của hòa thượng sư tổ Chuyết Chuyết, trụ trì chùa vào thế kỷ 17, từng được vua Lê sắc phong là “Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư”.
Cảnh quan chùa được bố trí hài hòa, khu vườn rộng trồng cây xanh tỏa bóng mát. Nhờ sự kết hợp giữa kiến trúc Trung Hoa với lối kiến trúc dân gian truyền thống của Việt Nam, nên chùa Bút Tháp có nét riêng và độc đáo. Mấy thế kỷ đã trôi qua, song những gì còn lại ở chùa Bút Tháp cho thấy đây là một trong những trung tâm Phật giáo có ảnh hưởng lớn tại vùng Kinh Bắc xưa, là một trong số ít những ngôi chùa còn giữ được khá nguyên vẹn khối kiến trúc, đồ thờ, tượng thờ cổ của nước ta.

Vãn cảnh chùa Bút Tháp, du khách sẽ được chiêm bái cảnh sắc của không gian cõi Phật đường, cảm nhận sự tĩnh lặng trong thế giới tâm linh vô thường, trải nghiệm cùng những suy nghĩ “đạo”, “đời” luân hồi mà thấy lòng như được giải tỏa trong cõi sân si.

Du lịch, GO! - Theo báo Đất Mũi, Giác Ngộ và nhiều nơi khác

Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2011

Thăm đền thờ Huyền Trân

Giữa chốn u tịch, bỗng ngẩn ngơ khi nghe tiếng chuông trầm ấm thong thả rơi vào không gian. Đó là tiếng chuông Hòa Bình cất lên từ đỉnh núi Ngũ Phong, nơi Trung tâm Văn hóa Huyền Trân tọa lạc.

Chuyện kể, vua Chiêm Thành Jaya Simhavarman III (Chế Mân) để cưới được Công chúa Huyền Trân đã đem hai châu Ô, Lý dâng lên vua Trần sính lễ. Vâng mệnh vua cha là Trần Nhân Tông và vua anh Trần Anh Tông, Huyền Trân đã gác tình riêng, gạt lệ xuống thuyền theo chồng, lập mối hòa hiếu và mở mang bờ cõi của đất nước về phương Nam. Đất Thuận Hóa - Phú Xuân - Thừa Thiên Huế cũng được khai sinh từ đó, đến nay đã hơn 700 năm.

Để ghi nhớ công ơn của Công chúa, Triều đình nhà Nguyễn (1802 - 1945) đã lập miếu Đại Đế Vương ở làng Lịch Đợi, phường Đúc, TP Huế, thờ các vị khai quốc công thần, trong đó có Công chúa Huyền Trân. Tiếc là miếu thờ này ngày nay không còn.

Người dân và giới học giả, giới nghiên cứu vẫn hằng mong Huế sẽ có một công trình vọng niệm xứng tầm với công lao và sự hy sinh của Huyền Trân- người có thể xem là công dân đầu tiên, công dân số 1 của đất Thuận Hóa - Phú Xuân. Và đến đầu năm 2006, Trung tâm Văn hóa Huyền Trân được khởi công xây dựng. Một năm sau đó, ngày 26.3.2007, công trình khánh thành nhân kỷ niệm tròn 700 năm Thuận Hóa - Phú Xuân.

Hằng năm, cứ vào mồng 9 tháng Giêng âm lịch, lễ hội Huyền Trân lại được tổ chức long trọng tại đây nhằm tri ân các bậc tiền nhân có công khai phá, mở đất.

Đền Huyền Trân công chúa nằm trong khuôn viên rộng khoảng 28ha, nằm dưới chân núi Ngũ Phong thuộc P.An Tây, TP. Huế. Địa hình khu đất thoai thoải, kéo dài từ chân núi lên đến đỉnh, có rừng thông xanh mướt, giữa bốn bề là đồi núi trùng điệp.

Đứng trên đỉnh núi nhìn xuống, du khách có thể thu vào tầm mắt một khoảng không gian bao la, sơn thủy hữu tình, phía xa xa là TP. Huế bên dòng sông Hương thơ mộng.
Theo con đường dẫn vào bên trong, trước mắt du khách là bốn trụ biểu vươn cao, tiếp đến là khoảng sân rất rộng. Lối đi được lát gạch Bát Tràng, hai bên có hồ nước trong xanh soi bóng và cầu bắc qua, tương tự như cầu Trung Đạo bắc qua hồ Thái Dịch trước điện Thái Hòa của Đại Nội Huế, trong cùng là đền thờ Huyền Trân công chúa. Tất cả đều nằm trên một trục thẳng, tạo nên khoảng không gian thoáng đãng, không kém phần thâm nghiêm.

Bên trong điện thờ là pho tượng công chúa Huyền Trân ngồi trên ngai với khuôn mặt phúc hậu, dáng vẻ uy nghiêm. Tượng cao 2,37m, được đúc bằng đồng nguyên chất do các nghệ nhân đúc đồng nổi tiếng của phường Đúc, TP. Huế thực hiện. Đỉnh nhang trước cửa đền luôn nghi ngút khói hương của du khách thập phương. Gió sớm mai thổi nhẹ mang theo hương trầm thoang thoảng khắp không gian ngôi đền, ướp vào cây cỏ, tạo cho du khách cảm giác lâng lâng, bình yên.

Khuôn viên phía sau điện thờ là lầu bát giác dựng tượng ni sư Hương Tràng (pháp danh của Huyền Trân công chúa sau khi xuất gia tu hành). Khuôn mặt hiền từ của bà như ánh lên một nỗi buồn man mác, trầm tư trước thế thái nhân tình, giống như điệu Nam Bình của khúc Nước non ngàn dặm, tương truyền là do Huyền Trân viết lúc nàng rời quê hương đi làm dâu xứ người:

Nước non ngàn dặm ra đi…
Mối tình chi!
Mượn màu son phấn
Đền nợ Ô, Lý
Xót thay vì,
Đương độ xuân thì…
Thắng cảnh tâm linh
Tiếp sau đền thờ Huyền Trân là đền thờ vua Trần Nhân Tông, người có công lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước, là vị tổ của thiền phái Trúc Lâm. Ở đây có bức tượng thờ vua Trần Nhân Tông bằng đồng đỏ nguyên chất, cao 3m, nặng hai tấn, được đúc theo phiên bản lấy từ đền thờ các vua Trần cùng nhiều bức hoành phi, câu đối ca ngợi công đức vua Trần Nhân Tông. Trước ngôi đền uy nghi là đôi rồng chầu đạt kỷ lục dài nhất Việt Nam.
Phía bên trái đền thờ Huyền Trân là một pho tượng Di Lặc ngồi, hình nhân phúc hậu, khuôn mặt tươi vui, nụ cười mãn nguyện. Tượng Di Lặc như một điểm dừng để du khách tịnh tâm nguyện cầu sự an lành, thịnh vượng trước khi tiếp tục khám phá đỉnh núi.
Đi thêm 246 bậc theo con đường ngoằn ngoèo giữa những hàng thông xanh được trồng thẳng tắp, tôi đặt chân lên đỉnh núi Ngũ Phong, nằm ở độ cao 108m so với mực nước biển. Giữa đỉnh núi cao, tháp chuông Hòa Bình in vẻ trầm mặc giữa nền trời xanh. Tháp chuông này cao 7m, mái hình lục giác, bên trong treo một quả chuông nặng 1,6 tấn, cao 2,16m, cũng do các nghệ nhân phường Đúc thực hiện. Thân chuông có khắc các hình ảnh tượng trưng của bốn chùa: Giác Lâm (TP.HCM), Thiên Mụ (Huế), Diên Hựu (Hà Nội) và chùa Trúc Lâm Yên Tử (Quảng Ninh). Phần dưới cùng gần miệng chuông, chạm hình rồng mây ẩn hiện.

Giữa chốn núi rừng u tịch, tiếng chuông thong thả vang lên, lan tỏa trong không gian tĩnh lặng như tờ, mang theo lời nguyện lành như tám chữ được khắc trên mặt chuông: “Thế giới - Hòa bình - Nhân loại - Hạnh phúc”…

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ DulichHue, Phunu Online