Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đảo. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 18 tháng 5, 2011

Ðộng Thiên Cung

Trong những hang động đẹp nổi tiếng vịnh Hạ Long mới được phát hiện trong những năm gần đây phải nói đến động Thiên Cung. Ðộng nằm ở phía tây nam vịnh Hạ Long cách bến tàu du lịch 4 km, trên đảo Ðầu Gỗ ở độ cao 25 m so với mực nước biển, có tọa độ 107o00’54″ và 20o54’78″.

Ðảo Ðầu Gỗ xưa còn có tên là đảo Canh Ðộc có đỉnh cao 189 m, dãy đảo như một chiếc ngai ôm trong lòng mình hai hang động đẹp. Ðường lên động Thiên Cung vách đá cheo leo, hai bên tán lá rừng che phủ um tùm, vào những đêm trăng, những chú khỉ tinh nghịch leo xuống tận đây để kiếm hoa quả. Qua một khe cửa hẹp, lòng động đột ngột mở ra không gian có tiết diện hình tứ giác với chiều dài hơn 130 mét. Càng vào trong ta càng ngỡ ngàng trước vẻ đẹp lộng lẫy của tạo hoá.

Đây là một hang động vào loại đẹp nhất ở Hạ Long mà con người biết tới. Hang rộng gần 10.000m2 có cấu trúc rất phức tạp, gồm nhiều cấp, nhiều ngăn với các trần và bờ vách rất cao, rộng. Đặc biệt trong hang, ở đâu đâu ta cũng thấy vô vàn các khối nhũ, măng đá với các hình dáng kì lạ. Vì vậy người ta đã hình dung ra cả một huyền thoại về cuộc tình và sự chia tay của Rồng bố, Rồng mẹ đã diễn ra trên vách đá hoặc nghĩ rằng đây là hình ảnh của các mê cung của Hoàng đế Ba Tư trong chuyện Nghìn lẻ một đêm.

Ðộng gắn liền với truyền thuyết về vua Rồng xưa. Chuyện kể rằng sau khi vua Rồng giúp dân ta đánh tan giặc giã, vua Rồng trở về động của mình an tọa, năm ấy trời hạn hán nặng, dân tình mất mùa nhiều nên họ phải cầu cứu vua Rồng ra tay làm mưa. Bao nhiêu người đã ra đi mà không có ngày trở về. Không sợ nguy hiểm gian nan, đôi trai gái quyết tâm cùng nhau đi tìm gặp vua Rồng. Người con gái của họ ra đời được đặt tên là nàng Mây.
  Your Ad Here

Nàng Mây lớn lên đã làm xao xuyến trái tim Hoàng tử Rồng và tình yêu đã giúp họ tìm đến với nhau, đám cưới được tổ chức 7 ngày 7 đêm tại khu vực trung tâm động. Ðể chúc mừng đám cưới, những chú rồng bay lượn lúc ẩn lúc hiện trong rừng mây nhũ đá, những chú voi con công kênh nhau lên nhảy múa, những con mãng xà lớn trườn mình quấn quanh cây đa cổ thụ, hai chú sư tử đá nhảy múa bờm tóc tung bay, trên cao những chú đại bàng giang rộng đôi cánh khổng lồ trên không trung…

Một chú voi lớn được trang trí diêm dúa công phu đang nằm phủ phục chờ cô dâu chú rể bước xuống. Nam Tào, Bắc Ðẩu tóc bạc như mây cũng đến dự tiệc vui, cảnh tượng tưng bừng náo nhiệt và vô cùng sống động. Tất cả những hình ảnh đó như vừa được hoá đá nơi này.

Trên vách động phía đông là một bức tranh hoành tráng đồ sộ, trong đó chạm nổi những nhân vật trong truyện cổ tích xưa, nét chạm khắc mềm mại uyển chuyển và vô cùng tinh tế sắc sảo tới từng chi tiết nhỏ, những khối điêu khắc dù là đồ sộ hay nhỏ bé đều được bàn tay của tạo hoá trau chuốt tỉ mỉ.

Trung tâm động là 4 cột trụ to lớn lực lưỡng chống đỡ thiên đình. Từ chân cột tới đỉnh đều được chạm nổi nhiều hình thù kỳ lạ như chim cá, cảnh sinh hoạt của con người, hoa lá cành… Trên vách động phía bắc là cảnh một bầy tiên nữ đang múa hát chúc mừng đám cưới. Dưới vòm động cao vút, từng chùm nhũ đá rủ xuống muôn màu tạo thành bức rèm đá thiên nhiên lộng lẫy. Ðâu đó có tiếng trống bập bùng như trong đêm hội làng xưa. Ðó chính là tiếng gió thổi qua kẽ đá. Ðứng giữa vòm động cao vút, màu thạch nhũ xanh như dát ngọc ta ngỡ như đang đứng trong tiên cảnh bồng lai vậy.

Tới ngăn động cuối cùng, những luồn ánh sáng trắng xanh đỏ xen lẫn phối màu tạo nên khung cảnh hoa lệ. Một vòi nước tự nhiên bốn mùa tuôn chảy róc rách, nơi đây có ba chiếc ao, nước trong vắt. Ðây là nơi nàng Mây thường tắm cho 100 người con của mình và nuôi họ khôn lớn trưởng thành. Một con đường dẫn ra phía ngoài quanh co uốn khúc, đó chính là con đường mà nàng Mây cùng 50 người con của mình ra đi để khai phá vùng đất mới, 50 người con còn ở lại cùng với người cha xây dựng quê hương, di vật mà người mẹ để lại là bầu vú tiên tràn trề sức sống.

Ở ngách phía trong, hang lại thông ra ngoài bằng một cửa nhỏ, nhìn xuống một vịnh biển nhỏ bị vây kín bởi một vùng cung núi. Trong hang cũng thấy có một dòng chữ trên vách đá và con số 1901. Có lẽ đây là bút tích của nhà thám hiểm đầu tiên đã tìm tới hang này. Bây giờ người ta đã xây hẳn một hệ thống cầu thang, hành lang đẹp và công phu cả ở bên ngoài và bên trong hang với các hệ thống đèn chiếu sáng để du khách dễ dàng vào thăm hang.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Adv travel, Vietnamtourism

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2011

Những cung đường thách thức nhất miền Bắc

Là dân mê 'chủ nghĩa xê dịch', hẳn sẽ có nhiều điều thú vị trên từng cung đường, trên từng nơi bạn đến làm cho bạn say đắm và đam mê chúng.

Điều đó cũng giống như có người chỉ cần đi để dự những phiên chợ của vùng cao, có người đi chỉ để chụp những thửa ruộng bậc thang đang chín vàng hay xanh non mùa nước đổ, cũng có người đi chỉ vì cái núi non trùng điệp, cái hoang sơ của núi rừng, cũng có ai đó đã nói, đi chỉ vì được đi mà thôi. Và có một phần nhỏ trong cái hồn của núi rừng làm say đắm bao kẻ lãng du luôn là những cung đường, những con đèo.
Những cung đường, thôi thì đủ loại, đường quốc lộ được rải nhựa phẳng lì có, đường đất bằng phẳng có, đường đá cấp phối có, đường  bùn lầy có, đường mà cảm tưởng như không phải là đường cũng có, đường như là chỉ dành cho ngựa đi vậy mà dân xê dịch vẫn vác được cả con xe máy to oạch vào đó và chạy được, những cung đường offroad luôn hấp dẫn và làm thỏa chí những kẻ tang bồng.

Những con đường của vùng sơn cước như những sợi chỉ vắt ngang lưng chừng trời, nơi có những áng mây bay sà lên vai người lữ khách, nơi những khúc cua tròn xe, nơi gió núi heo hút mang hương của rừng, nơi những mái nhà bé nhỏ tỏa khói lam chiều khi hoàng hôn xuống, nơi những vạt hoa rừng nở thắm lối chân đi, nơi chín vàng của những mùa lúa, nơi những dòng thác thả  mình đổ xuống, nơi lịch sử dân tộc đã ghi danh…
Mê mải lắm, yêu lắm…những cung đường như thế.

Có những cung đường đã trở thành huyền thoại của dân tộc, những cung đường mà mới nghe tên người ta đã hơi rợn người lên rồi…
Đó, chỉ vậy thôi, chỉ là những con đường ngoằn ngoèo cheo leo nơi vách núi mà khiến cho những kẻ lãng du phải ngẩn ngơ vì chúng, càng đi càng máu đi… Yêu lắm những cung đường tổ quốc mình…

“Dốc Pha Đin anh gánh chị thồ. Đèo Lũng Lô anh hò chị hát”. Con đèo Phađin đã trở thành huyền thoại trong lịch sử kháng chiến chống Pháp. Được mệnh danh là một trong “tứ đại đỉnh đèo” của vùng núi phía Bắc Việt.
Phađin dài khoảng 32km nối liền 2 tỉnh Sơn La và Điện Biên. Hiện nay người ta đã làm thêm một con đèo nữa thấp hơn đèo Phađin cũ, xe cộ chủ yếu lưu thông theo con đường này. Còn đèo Phađin cũ giờ ít người qua lại, là địa điểm lý tưởng cho dân “phượt” thử sức mình.

Đèo Lũng Lô: Nằm trên QL 37 nối liền 2 tỉnh Yên Bái và Sơn La, đèo Lũng lô được biết đến nhiều trong chiến dịch Điện Biên Phủ, là con đường huyết mạch tiếp tế vũ khí và đạn dược cho chiến trường. Cùng với Phađin, đèo Lũng Lô đã làm nên huyền thoại những con đường đến Điện Biên Phủ.

Đèo Khau Phạ, tứ đại đỉnh đèo thứ 2 của miền Bắc Việt. Là con đèo nối liền giữa 2 huyện Văn Chấn và Mù Cang Chải của tỉnh Yên Bái, đèo Khau Phạ được dân tộc Thái gọi với cái tên khác là Sừng trời (chiếc sừng núi nhô lên tận trời).
Trên đỉnh đèo gần như quanh năm mây phủ, dưới chân đèo là những bản làng với những địa danh có ruộng bậc thang nổi tiếng như Cao Phạ, Tú Lệ, La Pán Tẩn…

Dốc Bắc Sum – người Hà Giang có câu: “Dốc Bắc Sum, hùm Cán tỷ, phỉ Đồng Văn”. Dốc Bắc Sum nằm giữa hai huyện Quản Bạ và Vị Xuyên của tỉnh Hà Giang, nơi cửa ngõ đi lên Cao nguyên đá Đồng Văn, con dốc cheo leo và hiểm trở, thực sự hút hồn những “phượt tử”.
< Có một con đường đi lên cao nguyên đá Đồng Văn – Hà Giang.
Ô Quy Hồ: Huyền thoại một cung đường. Một trong tứ đại đỉnh đèo, Ô Quy Hồ nằm trên QL 4D giữa 2 tỉnh Lào Cai và Lai Châu, vắt mình qua dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ.
Ô Quy Hồ gần như là con đèo dài nhất miền Bắc Việt, với nhiều câu chuyện kể ly kỳ quanh đây, trên đỉnh đèo là Cổng trời, tách biệt khí hậu phía hai bên, những năm trời lạnh có thể có băng tuyết.
Đứng trên Ô Quy Hồ bạn có thề ngắm được dãy Hoàng Liên Sơn và đỉnh Fanxipan cao nhất Đông Dương (3143m).

< Con đèo nối liền giữa Xín Mần (Hà Giang) và Bắc Hà (Lào Cai).
< Con đường lên cột cờ Lũng Cú (nơi được xem là Cực Bắc của Tổ quốc).
< Đèo hình chữ B trên đường từ Lũng Cú về Đồng Văn (Hà Giang).
Đường lên Đồn Cao – Đồng Văn. Đồn Cao ngày xưa là một lô cốt của thực dân Pháp dựng lên, chiếm lĩnh trên đỉnh của một ngọn núi đá cao ngay trung tâm huyện lỵ đồng văn, nơi có con đường huyết mạch nối liền vùng cao nguyên đá với miền xuôi. Hiện nay vẫn còn lại những bức tường, những ụ súng, những lỗ châu mai…
Tà Si Láng, một xã xa xôi và hẻo lánh nhất của miền tây Yên Bái, ngày xưa con đường lên Tà Si Láng được xem là con đường cực khủng mà không phải ai cũng có thể dám bước chân đi, nơi có con đường vận chuyển gỗ Pơmu, và nơi đây những mái nhà của bà con dân tộc vẫn được lợp bằng gỗ Pơmu. Là một cung đường offroad rất thú vị cho những kẻ ưa khám phá.
< Đường vào Bạch Đích – Hà Giang.
< Một con đèo ngay trước khi vào Phố Cáo – Hà Giang.
< Một thắng cảnh đẹp đến say lòng của vùng cao nguyên đá.
Mã Pí Lèng – Tứ đại đỉnh đèo cuối cùng của miền Bắc. Mã Pí Lèng nghĩa là sống mũi con ngựa. Nằm trên con đường hạnh phúc, với độ cao hơn 2000m, một bên là vách núi đá cao dựng đứng, một bên nhìn xuống là dòng Nho Quế trong xanh.

Con đèo được bắt đầu khởi công ngày 10 tháng 9 năm 1959 và được xem là thi công thủ công gian khổ nhất, trên vùng cao nguyên cao nhất, nguy hiểm nhất, thời gian lâu nhất (mất hơn 6 năm), và cũng là bi tráng nhất. Hãy đến đây một lần, bạn sẽ thực sự bị chinh phục bởi Mã Pí Lèng huyền thoại.

Du lịch, GO! - Trần Giáp, Vietnamnet

Tìm chữ "Đèo" trong Du lịch, GO! để có rất nhiều bài viết liên quan.

Khám phá Suối Đá Ngọn

Trên đảo Phú Quốc có một nơi mà du khách ít biết nhưng nếu tự khám phá sẽ khó mà quên được: suối Đá Ngọn. Con đường đến với suối vất vả không kém…

Rời thị trấn Dương Đông, theo đường Nguyễn Trung Trực 3 cây số đường nhựa, chúng tôi vượt thêm 7 cây số đường đất đỏ về hướng suối Đá Bàn. Đêm qua mưa tầm tã, tuy nhỏ nhưng con đường vẫn có nhiều vũng nước hơi khó lái xe gắn máy. Chúng tôi quanh co xuyên qua những xóm làng thưa thớt, êm ả với những vườn tiêu xanh tươi, những cây rừng phủ rợp bóng mát, những con suối ồn ào tiếng nước đổ dưới chân cầu để đến hồ Dương Đông.

Hồ Dương Đông ở chân núi Hàm Ninh – dãy núi dài nhất (30 cây số) và cao nhất (603 mét) trong 99 ngọn núi trải dài từ Bắc chí Nam của Phú Quốc, thuộc Vườn Quốc gia Phú Quốc.

Vườn hiện có diện tích rộng tự nhiên 31.422 hec-ta, được quy hoạch thành 3 phân khu chức năng: phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái và phân khu hành chính – dịch vụ – nghiên cứu khoa học. Trải từ Bắc đến Trung đảo, vườn khá đa dạng với nhiều hệ sinh thái quý hiếm. Mùa hè, tiếng ve râm ran trên những tán cây rừng như bản hòa ca bất tận.

Hồ Dương Đông chu vi 3,5 cây số, sâu 15 mét, được tạo từ hẻm núi và một con đập xi măng, cung cấp nước sinh hoạt cho thị trấn Dương Đông. Mặt hồ nước xanh sậm màu ve chai trong suốt thấy từng đàn cá mè, cá lóc lượn lờ, cá con nhỏ như bầy ròng ròng nhởn nhơ bơi lội quanh xuồng. Người ta nói nơi đây vào những trưa nắng lớn thuờng thấy hai con càng đước, mỗi con nặng khoảng 25 – 30 ký, xuất hiện…
  Your Ad Here

Xuồng máy composite chạy khoảng 20 phút băng ngang hồ đến chân suối Đá Ngọn. Đầu mùa nắng, trong khi suối Đá Bàn, suối Tranh khô kiệt nước thì suối Đá Ngọn và bảy ngọn thác của nó lúc nào cũng ồn ào tiếng nước chảy. Nước nhiều đến đỗi hồ Dương Đông phải xả bớt mới không bị vỡ đập. Vậy mà, trong năm nay, hồ sẽ được xây cao thêm khoảng 15 mét nữa, để phục vụ nhu cầu sử dụng nước cho cư dân thị trấn Dương Đông sẽ gia tăng trong tương lai.

Mới đầu mùa mưa mà suối Đá Ngọn đã “hung hãn” quá chừng. Nước tràn trề, chiếm một khoảng bề ngang rộng chừng 6 mét. Con đường từ chân suối đi lên thật vô cùng ngoạn mục. Đá là đá, đủ hình thù, kích cỡ. Giày dép mang theo “bất lực” trước thiên nhiên hoang dã, chỉ có chân trần mới cực khổ vượt qua được hàng triệu tảng đá rất khó đi, có khi phải dầm chân trong làn nước lạnh buốt chảy siết. Có lúc phải băng rừng dọc theo triền suối, níu cành cây giữ thăng bằng, lắm khi níu nhằm nhánh dứa gai, máu ứa bàn tay, đau điếng.

Sung sướng nhất là khi được đặt chân trên các tảng đá phẳng phiu, thoải mái ngắm phong lan, dương xỉ bám đầy trên cành nhánh cây rừng. Nhưng bất ngờ nhất là ai cũng “bần thần” khám phá thấy cây tùng lá nhỏ như kim – một loại cây tưởng chỉ có ở Trung Hoa huyền thoại từ thuở xa xưa nào – không ngờ có mặt ở cuối trời Tây Nam đất nước. Hơn thế nữa, ở đây còn có cây tùng rậm lá, lạ mắt làm xao xuyến bao con tim nhạy cảm.

Đâu chỉ có vậy, người “sành chuyện” cho biết Vườn Quốc gia Phú Quốc hiện có hơn 530 loài thực vật cùng 150 loài động vật gồm 12 chi, 69 họ; 365 loài chim với các loài hiện có tên trong danh sách các loài quý hiếm, mà hiếm nhất là sói rừng và khỉ bạch. Đại mộc cao khoảng 20 – 30 mét làm thành một sinh tầng cao với các loại cây: vên vên, dầu song nàng, dầu cát, cầy, dẻ, săng sót, da, bứa,… Đặc biệt là mùa cua (hoa sữa). Theo một cư dân được sinh ra và sống ở đảo từ bốn chục năm nay, mùa cua có mặt ở đảo từ rất lâu đời, có cây gốc tới 2 – 3 người ôm.

Theo dòng suối lên cao, không khí mát rượi, thanh sạch hiếm có. Dọc đường, từ khe đá nhỏ rứt bất ngờ nhô lên một đóa trang rừng đỏ tươi nổi trên mấy chiếc lá xanh sẫm. Mua và sim mọc dài theo suối khoe những cành hoa tím đẹp mơ màng. Bao nhiêu nhọc mệt dường như tan biến khi nhấm chiếc lá bứa chua chua, nhất là khi đứng trước con thác thứ nhất mà anh bạn địa phương tạm đặt tên là thác “Đầu Lâu”. Anh chỉ vào dòng nước trắng xóa xoáy ồn ào, lờ mờ ba hốc đá đen, nói: “Có hai hốc mắt và một hốc miệng, giống hệt cái đầu lâu”. Ai cũng ngẩn ngơ trước bàn tay “nghịch ngợm” của trời đất.

Lại vượt qua muôn vàn đá tảng chìm trong nước, chân dò dẫm khỏa lớp rong rêu bám trên đó, bấm mấy ngón chân, đặt bước cẩn thận mới không bị trượt. Chốc lát đã đến ngọn thác thứ nhì, ở độ cao 300 mét. Thác cao, nước đổ ào ạt, âm vang nhói ngực. Cánh đàn ông, con trai nhanh chóng nhào xuống hồ nước nhỏ, bơi lội đã đời rồi mới tựa lưng vào thành thác cho nước dội mạnh lên đầu, lên người xóa tan mệt mỏi.

Nhìn cảnh ấy, cánh nữ người này rủ người kia xuống tắm, nhưng không ai chịu “phát pháo”. Bất ngờ cơn mưa rừng ào ạt đổ. Bờ suối có duy nhất chiếc hang cạn, vừa đủ hai người trú với mớ đồ đạc đem theo ém sát trong hốc. Các cô ướt mèm, “đành” nhanh chóng nhào xuống suối, quậy tưng.

Anh bạn địa phương bắt được mấy có cá lóc cỡ cườm tay người lớn, gom mớ cành khô, nhóm bếp lửa, cầm sấp báo quạt liên hồi. Trong mưa, lửa cháy khó khăn, khói tỏa mịt mù. Có than, anh bạn nhanh tay đùa chúng vào dưới thân cá. Mặc kệ mưa, cá vẫn chín nhờ sấp giấy báo phủ lên trên. Chốc chốc anh thăm chừng, trở mặt cá bằng bàn tay chai sần lao động của mình. Cá chín, cả đoàn túm hụm quanh hốc đá, bốc chấm muối tiêu chanh ớt, mặc cho nước từ cành nhánh cây nhỏ xuống. Nước cá ngọt thơm hòa trong nước mưa ngọt mát, thấm sâu vào tận dạ dày đói meo.

Dường như ai cũng thích thú thưởng thức hương vị khẩn hoang nên không thèm rớ tới mấy lát pa tê, xúc xích, chả lụa ngâm trong suối lạnh ngắt, cùng mấy ổ bánh mì đựng đầy bọc nylon. Cái lạnh của mưa rừng hầu như tan biến trước những nhúm cá tươi ngon cùng mấy ngụm rượu sim đậm đặc uống bằng nắp chai. Hòa mình trong “cuộc sống hoang dã” này, người nào cũng khoái trá đoan chắc có lẽ chưa ai khác được hưởng chuyến du ngoạn suối kỳ thú như vầy…

Còn năm tầng thác nữa mới tới đỉnh của suối Đá Ngọn. Cả năm ngọn thác này đều đẹp hơn hai ngọn thác dưới cùng mà chúng tôi đã đi qua. Trong đó, ngọn thác thứ tư cao khoảng 10 mét, nước đổ xuống mặt hồ rộng khoảng 30 mét vuông, tha hồ bơi lội, tha hồ mát- xa cực đã. Mưa nổi bong bóng, nghĩa là mưa dai, nên chúng tôi đành xuống núi.

Phải rất thận trọng khi đặt chân trên những tảng đá nổi, vì giờ đây lớp rêu bám trên thân nó ngấm nước mưa, trơn nhớt. Dù hết sức cẩn trọng nhưng cũng có mấy người trượt chân, thậm chí có người té ụp bị nước cuốn đi, may, níu được tảng đá ngầm. Vất vả trong niềm hứng khởi, chừng tiếng đồng hồ, chúng tôi thấy khoảng sáng hé lộ ở “chân trời”. Đó là chân suối, nơi có chiếc xuồng composite đang chờ đưa chúng tôi băng ngang hồ Dương Đông.

Chạy xe gắn máy về nơi nghỉ, cứ tưởng ít lắm sẽ có vài người bị cảm lạnh, nhất là các cô, các bà. Nhưng không, tất cả dường như mạnh khỏe thêm ra, chuyến đi mạo hiểm như tạo thêm niềm sảng khoái, thích thú vì ai cũng luôn có nụ cười trên môi khi nhắc đến suối Đá Ngọn.

Du lịch, GO! - Theo Phuquocquetoi, Metinfo.blogspot

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

Núi Nứa - Long Sơn

Núi Nứa nằm ở trung tâm đảo Long Sơn thuộc Vũng Tàu Bà Rịa. Núi có tên Nứa do trước kia trên khắp đảo có nhiều cây nứa (một họ với tre) mọc thành rừng.

Núi Nứa có chiều dài hơn 6km, chiều ngang có nơi rộng nhất hơn 2km, quần thể núi Nứa là đoạn cuối cùng của dãy núi Phước Hòa nhô ra biển. Nơi đây có nhiều tảng đá lớn với nhiều hình dáng khác nhau, cùng nhiều cột đá chọc thẳng lên trời.

Quần thể núi Nứa có ba đỉnh, cao nhất là đỉnh Bà Trao (183m), tiếp đến là đỉnh Núi Rồng (120m), về phía nam có đỉnh Hố Vong (hơn 100m). Trên đỉnh Bà Trao có một cột đá cao 5m gọi là Hòn Một. Trong khu vực này còn có hai khối đá dài bắc ngang tựa như con tàu biển, nên được gọi là Hòn Tàu. Nơi này là điểm dã ngoại khá lý thú dành cho các bạn trẻ thích vui sống cùng thiên nhiên, biển trời núi non.

Tuy độ cao khiêm tốn nhưng núi Nứa vẫn gây ấn tượng với du khách bởi khoảnh đường lên núi đầy vất vả khó khăn và nhiều thử thách.

Đường dẫn lên đỉnh núi dốc và khó đi vì những hòn đá luôn chờ sẵn dưới gót giày của bạn. Do đá ở núi Nứa nhỏ, nhiều góc cạnh nên sau khi chinh phục được đỉnh: bạn sẽ thấy "phê" khắp bàn chân.

Hoàn thành sứ mệnh chinh phục núi Nứa xong, bạn sẽ thấy dù núi thấp nhưng đây vẫn là một vấn đề lớn về sức chịu đựng của đôi bàn chân đấy.

Trên đỉnh núi Nứa có nhiều tảng đá rất to cao khoảng 4-5m, người ta gọi là hòn Một. Có hai khối đá dài bắc ngang trông giống như tàu biển, người dân gọi là hòn Tàu (hay ông Một, ông Tàu). Khách hành hương xem hai kỳ quan đá này là vị thần canh giữ đỉnh Bà Trao nên chốn này có nhang, quả thờ cúng.
Đứng trên đỉnh núi Nứa phóng tầm mắt ra xa, các bạn có thể thấy dãy núi Lớn ngoài Vũng Tàu, núi Dinh cũng thấy rất rõ. Toàn cảnh đảo Long Sơn nằm bình yên bên dưới với những mái ngói đỏ tươi còn biển xanh Vũng Tàu ngoài xa tận chân trời. Một khung cảnh bình yên, thanh thoát khi đón làn gió trên đỉnh núi.
Vào dịp lễ hội, du khách tới tham quan Hòn Một sẽ được tham gia làm lễ thỉnh cầu Thiên Địa và có thể phóng tầm mắt bao quát cả một vùng biển trời thoáng rộng. Dưới chân núi Nứa về phía tây có hồ chứa nước ngọt Mang Cá trồng nhiều hoa sen tỏa hương thơm ngát, còn về phía đông là di tích nhà Lớn - đền ông Trần.

Du lịch, GO! - Tổng hợp

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2011

Quần đảo Thổ Chu (Thổ Châu) – lấp lánh cùng biển bạc

Quần đảo Thổ Chu là quần đảo tiền tiêu phía tây nam của Việt Nam, nằm cách mũi Cà Mau khoảng 160km về phía tây bắc và cách đầu mút phía nam đảo Phú Quốc khoảng 100km về phía tây nam, gồm 8 đảo có diện tích rất khác nhau. 

Trước đây về phương diện hành chính, quần đảo thuộc tỉnh An Xuyên (Cà Mau); nay thuộc tỉnh Kiên Giang. Đảo lớn nhất tên chính là Thổ Chu, người địa phương quen gọi là Thổ Châu. Trên các bản đồ cũ còn có tên là Poulo Panjang. Đảo có diện tích gần 10km2. Những đảo khác nhỏ hơn rất nhiều, có bề mặt lộ trên mặt nước biển từ vài mét vuông (Hòn Khô) đến 1km2 (Hòn Từ). Chúng có tên: Hòn Khô, Hòn Hàng (còn có tên là Hòn Chim, Hòn Nhạn), Hòn Kèo Ngựa (còn gọi là Hòn Xanh), Hòn Từ, Hòn Cao và hai đảo cuối cùng là Hòn Cao Cát và Hòn Mô (còn gọi là Hòn Cái Bàn) nằm hơi cách biệt khoảng 50km về đông bắc đảo Thổ Chu.

Muốn ra quần đảo Thổ Chu (xã Thổ Châu, huyện Phú Quốc, Kiên Giang), khách phải ngồi 8 giờ tàu sắt và ngủ một đêm lại Phú Quốc; hôm sau, tiếp tục ngồi 8 giờ tàu nữa mới đặt chân lên đảo chính của quần đảo này. Hành trình dài nhưng khi nhìn thấy đảo, những mệt mỏi chợt tan biến. Bờ cát trắng mịn trải dài ở Bãi Ngự, bãi chính của đảo; bên dưới là biển xanh trong vắt, có thể nhìn thấy những đàn cá tung tăng bơi lội.

Xã đảo chỉ có 420 nóc gia với dân số hơn 1.000 người, nên khách từ nơi khác đến là điều dễ nhận ra đối với cư dân trên đảo. Nhưng đừng ngại, người dân trên đảo rất hiếu khách. Vì thế, bạn luôn nhận được những nụ cười, những cái gật đầu chào ngay từ khi đặt chân lên đảo hay lang thang ở bãi biển...

Dân cư tập trung ở Bãi Ngự và Bãi Dong. Phần còn lại là doanh trại quân đội và hải quân. Vì vậy, muốn tham quan trên đồi cao, khách phải liên hệ với Chỉ huy quân sự của đảo. Điều này cũng dễ dàng, vì không ai lại làm khó khách từ phương xa muốn tìm hiểu vùng đất tiền tiêu của Tổ quốc...

Bãi Ngự là một vùng biển nằm ở phía tây bắc đảo Thổ Chu. Do có núi bao quanh nên tạo thành hình chữ U chắn gió rất an toàn cho tàu neo đậu. Bà con cho biết, tên gọi Bãi Ngự là vì theo truyền thuyết, xưa kia nơi đây là bãi neo đậu tránh sóng của đoàn thuyền chúa Nguyễn trên đường tháo chạy đã tạm ẩn trú nơi này.

Về sau, dân gian gọi là Bãi Ngự và truyền khẩu cho đến ngày nay... Địa danh này cũng minh chứng rằng ông cha ta cũng đã góp phần khẳng định chủ quyền biển, đảo của mình từ thuở xa xưa...
Quần đảo Thổ Chu có nhiều đảo nhỏ nổi và chìm. Trong đó, lớn nhất là đảo Thổ Chu với diện tích gần 1.400 ha. Người dân địa phương sống nhờ vào khai thác hải sản và mua bán nhỏ. Trên đảo không có nhà trọ và các dịch vụ du lịch, nên chỉ thích hợp cho những người thích khám phá với những tour “du lịch bụi”. Tắm nắng, tắm biển và du ngoạn núi rừng thì còn gì thú bằng. Rừng trên đảo là rừng nguyên sinh, được bảo vệ nghiêm ngặt. Vì thế, nước ngọt trên đảo có đủ quanh năm, không xảy ra tình trạng thiếu nước vào mùa khô. Đảo

Theo các nhà khoa học, hệ thực vật trên bờ có ít nhất 200 loài. Dưới biển, hiện có 99 loài san hô đã được xác định.

Vùng biển này trong lành, không bị tác động nhiều và có nhiều rạn san hô rất thích hợp để làm tổ và săn tìm thức ăn của các loài rùa biển vốn đang bị đe dọa trên toàn cầu. Chính những ưu thế này, quần đảo Thổ Chu được đề xuất làm khu bảo tồn biển với tổng diện tích 22.400 ha; trong đó, phần đất liền khoảng gần 1.200 ha.
Biển Thổ Chu đâu đâu cũng có cát trắng mịn. Ra xa tầm 10-20 m cách bờ có thể nhìn thấy san hô dày đặc dưới đáy biển. Dọc trên bãi biển, du khách dễ dàng tìm thấy những nhánh san hô bị sóng đánh gãy, trôi dạt vào bờ. Dù chưa được thành lập khu bảo tồn, nhưng cư dân và quân đội trên đảo rất ý thức bảo vệ các loài san hô. San hô sinh sôi nảy nở là biển còn trong lành, bảo vệ được sự đa dạng sinh thái biển. Sống trên đảo phụ thuộc vào môi trường biển nên không ai nỡ “quá tay” với biển, mà sự đa dạng sinh thái biển là tô điểm cho vẻ đẹp, sự giàu có của biển.

Ra Thổ Chu mà không lên đến ngọn hải đăng của đảo là một thiếu sót lớn. Đỉnh cao nhất của đảo khoảng 167 m, nhưng hải đăng được đặt ở đỉnh cao thứ hai của đảo, khoảng 150 m so với mặt nước biển, vì vị trí này thuận tiện cho tàu bè quan sát.

Hải đăng được xây dựng và hoạt động từ ngày 25-1-2000 với tháp đèn cao khoảng 18 m, tâm sáng của đèn khoảng 140 m đủ sáng để tàu đánh cá, hàng hải quốc tế định hướng ở cách xa khoảng 12 hải lý vào ban đêm. Từ vị trí này, du khách có thể quan sát gần như toàn bộ quần đảo Thổ Chu.

Nếu được đưa mắt vào kính viễn vọng, khách nhìn thấy được những tàu hàng hải quốc tế, mà mắt thường chỉ thấy được một chấm nhỏ trên vùng biển mênh mông. Quần đảo này là vị trí quan trọng để xác định hải phận Việt Nam trên vịnh Thái Lan.
Ai đã đến đây một lần không thể không thốt lên lời khen ngợi cảnh đẹp hoang sơ và trong lành của đảo. Chỉ tiếc rằng, chưa có một doanh nghiệp lữ hành nào tổ chức tour đến đây. Vì thế, những người yêu thiên nhiên chỉ có thể đến đây ngao sơn ngoạn thủy bằng những chuyến du lịch bụi. Nhưng để chuyến đi trọn vẹn, bạn hãy theo chân các đoàn kết nghĩa với người lính hải đảo. Đời sống quân đội và cảnh đẹp hoang dã của đảo tiền tiêu và cả những tấm lòng của cư dân bản địa... sẽ là những dấu ấn tốt đẹp khắc sâu trong tâm trí bạn...

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Chudu24, Đất Mũi, Sotay dulich...

Ra đảo Thổ Châu

Thứ Hai, 2 tháng 5, 2011

Thăm đảo Lý Sơn

Từ bến cảng Sa Kỳ, chỉ mất chừng 45 phút chòng chành trên tàu cao tốc, tôi đến đảo Lý Sơn - nơi cách đây gần 3000 năm những cư dân Sa Huỳnh đầu tiên đã sống và để lại cho hậu thế những câu chuyện đầy huyền bí về một vùng đất mang nhiều dấu ấn về lịch sử và nhân văn. 

Truyền thuyết dân tộc Kor kể rằng, đảo Lý Sơn là một phần của vùng núi Trà Bồng trôi dạt về phía Biển Đông sau trận giao tranh dữ dội của Thần Nước và người anh hùng Doang Đác Tố, chủ làng Tali Talok.

Theo các nhà địa chất, hòn đảo xinh đẹp này được hình thành cách đây vài triệu năm do vận động phun trào nham thạch của các núi lửa phủ lên nền những nếp gấp tạo sơn đã bắt đầu nâng những lớp đá trầm tích nhô khỏi mặt nước biển.

Chính các lớp trầm tích nền đảo và san hô phát triển trên bề mặt là cơ sở cho việc hình thành nhiều hang động, cổng đá do tác động xâm thực của nước biển trong thời kỳ biển tiến ở khu vực hòn Thới Lới, nơi vận động tạo sơn theo kiểu xếp nếp đã đẩy các lớp trầm tích đáy biển nhô cao hơn cả trong hệ thống đảo Lý Sơn. Còn vết tích núi lửa là những khối nham thạch nhiều hình dạng chưa kịp phân hủy, cũng như lớp đất đỏ bazan màu mỡ phủ hầu hết khắp đảo, tạo điều kiện cho sự đa dạng và tươi tốt của hệ thực vật che phủ.

Huyện Lý Sơn có ba xã: xã An Hải, An Vĩnh (đảo Lớn) và xã An Bình (đảo Bé). Giữa nghìn trùng sóng nước nhìn từ xa Lý Sơn trông giống con rùa biển khổng lồ dạo chơi trên biển.

Đảo Lý Sơn còn có tên gọi  là cù lao Ré. Theo các vị cao niên trên đảo, có tên gọi như vậy là vì xưa kia trên đảo có rất nhiều cây ré. Vỏ cây ré dùng để buộc đồ rất bền . Sách Đại Nam Nhất Thống Chí soạn vào đời Tự Đức, phần tỉnh Quảng Ngãi có ghi: “Cù lao Ré ở giữa biển, cách huyện Bình Sơn 65 dặm về hướng Đông, xung quanh núi cao, ở giữa trũng xuống ước mấy chục mẫu, nhân dân hai phường Vĩnh An và An Hải ở tại đây. Phía Đông Bắc có động, trên động có chùa mấy gian, có giếng đá, bên hữu động có giếng nước trong veo, chung quanh cây cối xanh tươi...”. Vào đời vua Lê Kính Tông, năm 1604, có người từ đất liền ra định cư, khai phá hải đảo. Hiện nay trên đảo còn thờ tám vị tiền hiền từng khai canh trên mảnh đất gọi là "Bát tổ".

Huyện đảo Lý Sơn vỏn vẹn 10 km2  với dân số chừng 2 vạn người nhưng có đến gần 100 di tích  với một quần thể các đền, chùa ,miếu mạo, những ngôi mộ gió của các chiến binh Hoàng Sa một thời giong buồm ra khơi giữ gìn chủ quyền biển đảo cho quốc gia. Trải qua bao biến thiên của lịch sử, song có lẽ nhờ ở xa đất liền , ít bị ảnh hưởng của việc tu bổ, tôn tạo di tích theo kiểu ăn xổi nên hầu hết các di tích của Lý Sơn còn nguyên vẹn, ít bị xâm hại  như chùa Hang, chùa Đục, đình làng Lý Hải, quần thể di tích Âm Linh Tự, nghĩa trang lính Hoàng Sa.

Toàn cảnh đảo Lý Sơn là một thắng cảnh thiên nhiên độc đáo với năm ngọn núi nhô cao giữa một vùng trời biển bao la có thể nhìn rõ trong những ngày đẹp trời từ ngọn núi Nam Trân - ngọn núi cao nhất nằm ở ven biển, thuộc khu vực Dung Quất.

Trên đỉnh ngọn núi là những thảm rừng, gần dưới chân là nhà cửa, đường sá và những cánh đồng xanh tươi bốn mùa.
Chùa Hang là hang động lớn nhất trong hệ thống hang động ở đảo Lý Sơn. Hang đá này được tạo thành từ một vách đá dựng đứng, cao gần 20 m ở ngọn núi Thới Lới, do bị nước biển xâm thực trong thời kỳ biển tiến. Hang có bề ngang 30 m ăn sâu trên 25 m vào núi theo kiểu hàm ếch ngoài cửa cao 15 m, thấp dần vào phía trong.

Ở đó có những kỷ đá, giường đá rất đẹp. Trước cửa hang là những cây bàng phễu cổ thụ, cành lá xum xuê. Chùa Hang là nơi thờ Phật nên còn có tên chữ là Thiên Khổng Thạch Tự, nhưng nơi đây cũng kết hợp thờ 7 vị tiền hiền làng Lý Hải.

Đình làng và nhà thờ tiền hiền Lý Hải tọa lạc tại thôn Đông - xã Lý Hải, được xây dựng vào năm 1820 và trùng tu 4 lần, nhưng vẫn còn nguyên những nét kiến trúc chủ đạo ban đầu. Đây là ngôi đình làng cổ nhất và cũng là nơi duy nhất các lễ hội, sinh hoạt văn hóa (tế xuân thu nhị kỳ, tế tiền hiền, đua thuyền, vật, ném cồn,...) được duy trì liên tục cho đến nay ở Quảng Ngãi.
Ngoài chùa Hang, đình làng Lý Hải, Lý Sơn còn có hang Câu, miếu bà Chúa Ngọc, Âm linh tự, dinh bà Roi, giếng vua; những hiện vật bằng đá, gốm sứ Trung Hoa, Chăm, Sa Huỳnh Đại Việt. Đặc biệt, trong lòng đất Lý Sơn còn ẩn chứa nhiều di chỉ văn hóa Sa Huỳnh và văn hóa Chăm mà các hiện vật gồm xương động vật, đồ gốm, hài cốt người cổ có niên đại cách chúng ta khoảng 2-3 nghìn năm. Đảo

Về mặt văn hóa tinh thần, Lý Sơn là một bảo tàng sống động với sự phong phú rất đáng ngạc nhiên của kho tàng truyền thuyết, chuyện kể, dân ca, lễ hội đua thuyền tứ linh, lễ tế lính Trường Sa, các lễ tín ngưỡng dân gian theo mùa, tục thờ cá ông,...

Lý Sơn nằm trong hệ thống các đảo tiền tiêu về phía biển, có vị trí quan trọng trong việc bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Do đó, nhiệm vụ bảo vệ các di tích lịch sử, văn hóa phải gắn với yêu cầu về quốc phòng, trong đó đặc biệt lưu ý các tư liệu liên quan chủ quyền của Tổ quốc đối với không chỉ đảo Lý Sơn mà cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Điều dễ làm say lòng bất cứ ai đến Lý Sơn là màu trời, màu nước ở đây xanh ngắt. Tôi đã đến nhiều đảo to, đảo nhỏ ở khắp cả nước nhưng chưa có bầu trời ở đâu xanh như bầu trời Lý Sơn những ngày cuối tháng bảy này. Nước biển xanh biếc, ánh nắng trong suốt chảy trên từng ngọn cây, đọt cỏ trong như thủy tinh, bầu trời  trong veo đẹp đến ngỡ ngàng. “Hòn đảo văn hóa” Lý Sơn, chắc chắn sẽ là một nơi thu hút sự quan tâm tìm hiểu không chỉ đối với các nhà nghiên cứu mà còn là một điểm thu hút đáng kể khách du lịch trong một tương lai không xa.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Thethaovanhoa, Skydoor, ảnh internet ----------------


Mai này còn đảo Lý Sơn?
.
Thống kê của huyện đảo Lý Sơn cho biết, diện tích của hòn đảo này trước năm 1975 là 1.400 hecta, hiện đảo chỉ còn 997 hecta. Trong vòng 36 năm qua, thủy triều đã “nuốt” của hòn đảo này trên 400 hecta, riêng bão số 9-2009, Lý Sơn mất gần 40 hecta.
.
Mỗi năm mất trên 10hecta


< “Khu nghỉ mát Hoàng Sa” chỉ còn bộ khung sau bão số 9-2009.
.
Đảo Lý Sơn được hình thành từ 5 miệng núi lửa. Chỉ có khoảng 3km được vây bọc bằng đá, toàn bộ chu vi còn lại của Lý Sơn đều bằng đất và cát. Vì vậy, mỗi mùa biển động, những nơi được cấu tạo bằng đất và cát này bị mất dần do nạn xâm thực của thủy triều. Bão số 9-2009, cơn bão mạnh nhất trong vòng 50 năm qua đã “nuốt” của Lý Sơn đến 40 hecta. Toàn bộ diện tích phía đông và đông bắc đã bị bão số 9 xóa sổ.
.
Ông Dương Thành, chủ của “Khu nghỉ mát Hoàng Sa” ở phía đông đảo Lý Sơn cho biết: “Khu nghỉ mát này có diện tích khoảng 3hecta, đã được trồng cây chắn gió và xây tường bao bọc nhưng qua trận bão năm 2009, giờ chỉ trơ bộ khung, lổn nhổn đá đen. Nếu ở đất liền, chúng tôi có thể san lấp lại bằng đất nhưng ở Lý Sơn, không tìm đâu ra đất để lấp vào số diện tích bị mất ấy”.
.
Ở phía đông bắc của đảo, cạnh khu vực Hang Câu thuộc xã An Hải, toàn bộ 6 hecta đất ở đây đã bị thủy triều dọn sạch. Số gia đình chuyên trồng tỏi khu vực này giờ trắng tay vì không còn đất để canh tác. Cách đây chừng 10 năm, số gia đình trồng tỏi vẫn thường ra khu vực Hang Câu để lấy cát biển về rải lên ruộng tỏi trước khi trồng vụ mới. Cát ở khu vực này là thân của những con ốc, con sò đã hóa thạch nên rất hợp với cây tỏi, chính nó làm nên hương vị rất đặc thù của tỏi Lý Sơn.
.
Cứ mỗi mùa tỏi, người dân lại khai thác cát ồ ạt khiến bờ biển bị “hỏng chân”, tạo điều kiện cho thủy triều thâm nhập nhanh hơn. Huyện Lý Sơn đã ra văn bản cấm khai thác cát khu vực này. Dù việc khai thác cát để trồng tỏi đã chấm dứt 5 năm nay nhưng diện tích đất khu vực này vẫn mất mỗi năm 2-3 hecta.
.
Ông Trần Ngọc Nguyên, Chủ tịch UBND huyện Lý Sơn nói: “Trung bình mỗi năm, Lý Sơn mất trên 10 hecta vì nạn xâm thực của thủy triều, bất chấp những nỗ lực của địa phương như vận động mọi người trồng cây chắn gió và cấm triệt để nạn khai thác cát ở ven đảo để trồng tỏi”.
.
Giữ đảo bằng kè
.
Nếu để cho thủy triều  “tự do” tàn phá thì không bao lâu nữa, Lý Sơn chỉ còn trơ bộ khung bằng đá! Những năm qua, bằng nhiều nguồn kinh phí của Trung ương và địa phương, một “bờ kè” chạy dọc phía nam đảo đã được xây dựng. Chính nhờ bờ kè này mà đình An Hải-một di tích lịch sử-văn hóa cấp quốc gia mới không bị thủy triều xóa sổ.
.
Khu dân cư trên 1 vạn dân chạy dọc phía nam đảo từ An Vĩnh đến An Hải cũng được bảo vệ nhờ bờ kè này. Riêng khu vực trước đình An Vĩnh-nơi diễn ra Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa hàng năm, người dân đã tự bỏ ra hàng chục tỷ đồng, lên núi khuân đá về kè quanh nhà để “cứu mình”.
.
Tuy nhiên, nơi nào có khu dân cư thì mới được “quan tâm” còn ở những khu vực đất sản xuất thì phó thác cho thủy triều. Gần một vạn nông dân trồng tỏi ở Lý Sơn đang phải co cụm lại sau mỗi mùa mưa bão vì đất bị mất. Nhà nước cần có môt giải pháp căn cơ cho toàn đảo thì mới mong giữ lại số diện tích hiếm hoi cuối cùng của hòn đảo này trước khi thủy triều “khai tử”.


Theo Quảng Ngãi Online