Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cao nguyên. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 18 tháng 5, 2011

Bình yên hồ Thang Hen

Thang Hen là một hồ nước ngọt tại xã Quốc Toản, huyện Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng, Việt Nam. Nó nằm ở độ cao trên 1000 mét so với mực nước biển, về phía Bắc thị xã Cao Bằng, cách cây số 34 trên đường từ thị xã Cao Bằng về huyện Trà Lĩnh khoảng 5-7 km. Đây là một trong quần thể 36 hồ nước ngọt trên đỉnh núi cao thuộc huyện Trà Lĩnh có độ cao so với mặt biển hàng nghìn mét.

Tên của hồ theo nghĩa tiếng Tày là "đuôi ong", bởi vì từ trên cao nhìn xuống thì hồ có hình tựa như đuôi con ong. Hồ có chiều rộng chừng 100-300 m, chiều dài 500-1.000 m, tùy theo mực nước.

Huyền thoại xưa truyền rằng, trước kia ở vùng Trà Lĩnh có một chàng trai thông minh tuấn tú, làm bao cô gái xinh đẹp thổn thức. Chàng thi đỗ làm quan, được ban thưởng 7 ngày vinh quy bái tổ trước khi vào kinh. Mải quyến luyến bên người vợ mới cưới là nàng Bjooc nết na, xinh đẹp, đến đêm thứ bảy chàng mới sực nhớ là phải trở về kinh.

Dốc sức vượt qua 36 thung lũng núi đá giữa đêm tối, chàng kiệt sức ngã khụyu, đập đầu vào núi Mã Phục và chết. 36 thung lũng ấy ngày nay là 36 cái hồ lớn nhỏ ở vùng rừng núi huyện Trà Lĩnh. Tương truyền rằng, nơi chàng nằm xuống chính là hồ Thăng Hen ngày nay. Mùa mưa, nước ở các hồ dâng lên xanh ngát. Mùa khô, các hồ hết nước, duy chỉ có Thăng Hen vẫn trong xanh, không bao giờ cạn.

Hồ là một bể nước kín tự nhiên, có các dòng sông suối ngầm đổ về, và cũng có nhiều dòng suối ngầm chảy đi theo một hệ thống sông suối ngầm nằm sâu trong lòng những rặng núi đá. Hiện tượng này trong ngành địa chất gọi là Carxtơ. Nước hồ Thang Hen hàng ngày vẫn có 2 đợt thủy triều lên xuống. Độ chênh lệch của mực nước lớn và nhỏ trong hồ - giữa mùa mưa và mùa khô - có thể tới độ 15 hoặc 20 m.

Vào mùa lũ lớn, do có cả nước bề mặt đổ về nên nước chảy đi không xuể, làm cho hồ tràn sang các thung lũng liên kết tạo thành một chuỗi có tới 36 hồ nước xanh ngắt. Một trong các hồ bên cạnh Thang Hen là hồ Thăng Luông. Vào mùa khô hạn lớn thì hồ có thể trơ đáy, chỉ còn ít nước tại hồ chính Thang Hen với mức nước thấp nhất 10 m, và các sông suối ngầm đều chảy ngầm hoàn toàn. Khi hồ cạn, có thể quan sát trên bờ bùn dốc ngược có những hố lớn mà dưới lòng phễu của chúng là những thân cây, củi gỗ xếp xoay như được xoắn hút xuống; đó là những cửa ngầm thoát nước vào mùa nước lên.

Thượng nguồn của hồ là hang Thang Hen. Một trong các suối bắt nguồn từ hồ là Suối Củn, chảy lộ thiên bắt đầu từ một miệng nguồn trên một dãy núi đá vôi bao quanh hồ, có đỉnh cao tới 2000 mét do với mực nước biển, tới thị xã Cao Bằng thì nhập vào sông Bằng. Năm 2000 tại nguồn của suối đã xuất hiện một "giếng sụt" có đường kính gần 100 m, tụt sâu 50-70 m; sinh ra bởi hiện tượng ăn mòn đá vôi do dòng chảy ngầm.

Khu vực hồ Thang Hen có bờ vực đá dựng đứng sâu từ 5 cho tới 20-30 m và động cao 20 m thông lên phía triền núi. Trên núi đá có các giống cây quí như cây nghiến để lấy gỗ làm nhà, cây báng với thân cây có thể ủ men, rồi nấu thành rượu báng. Tại đây cũng có rừng trám trắng và trám đen.

Đường vào hồ Thăng Hen cũng thật đẹp, đi qua một ngôi làng nhỏ lô nhô những mái nhà gỗ. Những căn nhà thấp lụp xụp, mái nhà như chạm cả xuống đất. Có lúc, con đường bất ngờ dốc đứng giữa hai bên là vách núi cao, lúc lại uốn lượn giữa đồng lúa nương êm ả.

Làng Thang Hen nằm cách hồ khoảng 2 km. Làng gồm toàn nhà sàn, lợp ngói máng và làm toàn bằng gỗ nghiến. Bản trù phú và đông dân nhất ở cùng trong một triền thung lũng với hồ và cách hồ khoảng 2-3 km. Đối với vùng lân cận, hồ Thang Hen có khả năng điều hòa vi khí hậu: nhiệt độ vào những đêm mùa hè có thể lạnh bất thường.

Ngày chúng tôi đến, vạt hoa dại ven hồ đang nở đầy những bông hoa nhỏ, tím ngắt. Thảm hoa tím ôm trọn lấy mặt nước hồ xanh màu ngọc bích mát lành giữa trưa nắng. Những tia nắng vàng nhảy nhót lấp lánh trên mặt hồ xanh phẳng lặng như gương. Xa xa, sau thảm hoa là tán rừng già xen lẫn những mỏm đá tai mèo, khiến mặt hồ như thu nhỏ lại, e ấp nép mình dưới sự chở che của núi rừng.

Phong cảnh nên thơ, êm đềm đến mức giữa trưa nóng mà chẳng ai có ý nghĩ sẽ nhảy xuống hồ tắm, bởi sợ làm vỡ mặt gương ngọc bích của hồ, sợ phá vỡ vẻ thanh bình nơi đây. Chúng tôi nằm giữa thảm hoa, để mặc những tia nắng nhảy múa xung quanh, thả hồn mình theo những dải mây trắng bồng bềnh vắt ngang sườn núi. Những câu chuyện cứ nhỏ dần, rì rầm rồi tắt hẳn, chỉ còn thấy thời gian trôi thật chậm và bình yên.

Du lịch, GO! - nguồn Vnlink, Viettravel, Laodong, ảnh internet

Thứ Ba, 17 tháng 5, 2011

Phó Bảng bình yên

Đó là một trong những thị trấn heo hút ở chốn địa đầu, nằm sát đường biên giới Việt - Trung, với chủ yếu là người dân tộc Hoa và Mông quần cư sinh sống trong những bản làng nằm chơi với giữa lòng thung lũng đá.

Đã tới vào mùa đông sương giăng mịt mùng, bạn sẽ muốn trở lại vào mùa hè khi mặt trời chói nắng. Con đường vào Phó Bảng cheo leo đến mức, nhiều người khi ngước mắt nhìn lên tự hỏi, liệu không biết con đường ấy có dắt ta đi về phía cổng trời? Chốn ấy bình yên và thanh thản đến mức, ngỡ như thời gian đang dừng lại, hoặc là trôi rất chậm, thật khẽ khàng, thật dịu dàng, biến thị trấn thành một nơi hầu như tách biệt với thế giới bên ngoài, khiến người lữ hành quên đi hết những âu lo, bộn bề ở dưới xuôi kia…

Có lúc, thị trấn cũ kỹ ấy như bị nhấn chìm trong cái lạnh buốt giá và mịt mù sương núi, như thể đang ngủ rất say để quên đi sự khắc nghiệt của đất trời. Cũng có lúc, bừng lên trong sự ấm áp của nắng mai, của những bước chân vội vàng đi nương lên núi, của những ruộng hoa hồng rung rinh trong gió, hay tiếng cười trong trẻo của bọn trẻ con nơi góc làng.

Phó Bảng làm người ta nhớ bởi những căn nhà trình tường đẹp như trong truyện cổ. Những bản quần cư cũ kỹ với tường đất và cột kèo bằng gỗ đã trở nên láng bóng vì thời gian, mái ngói âm dương sẫm màu sương gió, giấy bản màu cứ phai rồi lại mới mỗi độ xuân về.
  Your Ad Here

Nó cũng làm người ta nhớ bởi những người phụ nữ ngồi bên ô cửa, phơi nắng ngoài sân chuyện phiếm với thêu thùa… Nó cũng làm người ta xót lòng khi nhìn những căn nhà bỏ hoang xiêu vẹo, tường đất mới nện mà mái lợp tạm bợ bằng mảnh nylong, có người mẹ trẻ con ngồi chông chênh trong gian nhà nắng, nơi không chỉ có những điệu khèn du dương gọi bạn, mà còn phảng phất đâu đây những điệu ầu ơ buồn…

Chợ Phó Bảng họp mỗi tuần một lần, vốn là một phiên chợ lùi, (nếu tuần này họp thứ 7 thì tuần tới sẽ họp vào thứ 6, tuần tới nữa sẽ họp vào thứ 5), vì thế sẽ thật may mắn khi tới nơi này đúng ngày phiên chợ. Cũng như bao phiên chợ vùng cao khác, một tuần dân quanh vùng Phó Bảng sẽ có một ngày vui, một ngày tất bật đem hàng đi bán, mua sắm đồ đạc mới, dắt ngựa, cắp lợn, cắp gà xuống núi, được uống rượu mềm môi, say sưa ngủ ngang đường... và vui những niềm vui giản dị.

Phiên chợ nhỏ chỉ họp trong một buổi sáng, cũng đủ làm chộn rộn cả khu phố cổ vốn dĩ rất trầm lặng trong tuần.

Tôi yêu cái thị trấn bảng lảng sương mờ ấy, yêu những con người lặng lẽ đi về trên phố núi, những mái nhà ẩn hiện dưới tàng cây, khoảng sân nhỏ khuất sau bờ rào đá. Tôi lặng người trước những thung lũng đẹp như mơ, ở đó, giữa lởm chởm những hốc đá tai mèo, mầm xanh của ngô lúa, cải mèo vẫn đang cựa mình để sống.

Phó Bảng thị trấn bình yên trên Cao nguyên đá

Tôi đứng trên đường biên giới giữa hai nước Việt - Trung, con đường trải nhựa nối thẳng hai cửa khẩu Phó Bảng và Ma Ngán Sán, thỉnh thoảng vẫn thấy xe máy biển Trung Quốc nổ máy ầm ầm chạy ngang, thấy người dân tộc đi tra ngô, làm nương trên núi, mà không phân biệt được họ là người Việt hay là bạn láng giềng.

Dường như, ở chốn núi liền núi, sông liền sông, văn hóa sống của các dân tộc đã hòa trộn vào nhau, tạo nên một nét rất riêng cho Phó Bảng… Thế nên, lúc ngồi bệt trên nền đất nện trong khu phố cũ, ngắm những người già đi ra đi vào, tôi chợt liên tưởng đến những hình ảnh của Hồng Giang cổ thương thành trên đất Hồ Nam… xưa cũ, trầm mặc, thanh thản và bình an đến lạ kỳ.

Ngô gác lúc lỉu trên hiên nhà, cỏ khô xếp đầy chái bếp, những chiếc xe cải tiến rảnh việc nằm ngoan bên đường, chỉ có đám trẻ con là chạy loanh quanh cột nhà, ngang qua chiếc cửa sổ bé xinh như cửa tò vò, hay vấp đánh ầm vào thanh gỗ ngang ở chân cửa chính.

Đến Phó Bảng, không thể không dừng xe ghé thăm các bà, các mẹ, các chị đang hối hả tước lanh, se sợi, khâu váy… một trong những công việc quan trọng thường ngày của người dân nơi này. Những chiếc váy Mông kỳ công và nhiều màu sắc, rực rỡ, lóng lánh bây giờ không chỉ còn là trang phục truyền thống của phụ nữ nữa, mà còn trở thành một thứ quà lưu niệm đáng giá cho nhiều du khách gần xa ghé thăm thị trấn heo hút và biệt lập này.

Hôm ấy nắng rất vàng, trời rất xanh, bản cuối cùng sát đường biên có gian nhà mới đang trình tường nện đất. Tôi ngồi giữa đám trẻ nhỏ đang nghịch ngợm trên thửa ruộng bỏ không, ngắm nhìn cánh đàn ông cần mẫn gụi từng gùi đất, hối hả đổ vào khuôn, dùng vồ nện chặt rồi lại gùi, lại đổ đất và dùng vồ nện chặt… Cứ thế độ hơn chục ngày, ba bốn công thợ, mua tấm lợp pro xi măng che mái thay vì vào rừng xẻ gỗ là có nhà mới để ở. Rồi bên ngoài tường lại xếp đầy củi khô, trên bờ rào lại phơi đầy váy áo… Dòng chảy cuộc sống âm thầm trôi.

Tạm biệt Phó Bảng, hình ảnh cuối cùng níu giữ bước chân tôi là một phụ nữ người Mông đang quần quật giặt đồ bên suối, đứa con nhỏ chơi quẩn quanh chân, váy áo phơi la liệt trên bờ, trên ngọn cây, ngọn cỏ… Này xanh, này đỏ, này vàng, này bảy sắc cầu vồng lấp lánh… Thị trấn này sao quá đỗi bình yên?

Du lịch, GO! - Theo Dulich Tuoitre

Thứ Hai, 16 tháng 5, 2011

"Làng Singapore" giữa Trường Sơn

Giữa đại ngàn Trường Sơn có một ngôi làng đặc biệt - làng Aur hay còn gọi là "làng Singapore” vì cuộc sống ở đây rất ấm no, người dân gìn giữ môi trường rất sạch sẽ.

Làng Aur như “ốc đảo” giữa Trường Sơn, có độ cao hơn 1.000m so với mặt nước biển, hiện có 15 hộ, 72 nhân khẩu, đều là dân tộc Cơtu. Trước đây, làng Aur thuộc huyện Nam Đông (Thừa Thiên - Huế), năm 2003, được sáp nhập về xã Avương, huyện Tây Giang.

Để đến được làng Aur, từ trung tâm xã A Vương phải vượt qua những con dốc dựng đứng đến làng Zaréch bằng xe máy rồi tiếp tục lội bộ trên 20 km băng rừng, vượt suối và trèo qua 4 ngọn núi cao. Từ đó, phải tiếp tục vượt 372 bậc tam cấp bằng gỗ dựng đứng để đặt chân đến đỉnh bản Aur treo giữa lưng trời.

Vừa đặt chân đến làng Aur, trước mắt tôi hiện ra bạt ngàn mây trắng bao phủ bản làng trông như một bức tranh tiên cảnh.

Khi sương mù dần tan, Aur hiện ra thật đẹp. Một người bạn đi cùng vứt mẩu thuốc lá hút dở xuống sân làng, thầy giáo Dương Đông, giáo viên tình nguyện lên dạy học ở Aur, cũng là người dẫn đường cho tôi, liền nhặt lên bỏ vào sọt rác gần đó, rồi nói: “May mà không ai nhìn thấy. Ở đây, người dân văn minh lắm. Lệ của làng là nếu ai xả rác trong khuôn viên làng sẽ bị phạt nặng. Trẻ vị thành niên thì bị phạt 2 ngày quét rác và dọn nhà cho 17 hộ trong làng; người lớn thì bị phạt 5 ngày; khách đến làng nếu lỡ vi phạm thì bị nhắc nhở”.
  Your Ad Here
< Hồn nhiên nụ cười trẻ em Aur.

Theo chân già làng Alăng Zèng đi một vòng quanh khuôn viên của làng (rộng chừng 5.000 m²), chúng tôi nhận thấy chỗ nào cũng sạch bóng.

Già làng Alăng Zèng khoe: “Nước trong bể tắm giặt của bản được lấy từ nguồn nước suối, trong veo theo đường ống nhựa đưa về làng”. Nước chảy ào ạt cả ngày đêm, mát rượi. Thế nên không như ở những bản làng khác, trẻ em người Cơ Tu tại Aur đều trắng trẻo, sạch sẽ.
Già làng Alăng Zèng đưa chúng tôi vào thăm từng gia đình. Những căn nhà cất bằng gỗ, lợp tôn và nền được lót bằng gạch hoa, tươm tất đến không ngờ.

< Khi có khách đến thăm, thanh niên trong làng vào rừng hái rau, hái nấm...

Mỗi ngày ba lần như lệ làng đã ban (sáng, đầu chiều và chiều tối), người già và trẻ em phải tập trung quét dọn nhà cửa, sân làng; nhà nào để phát hiện có rác, bụi bặm thì bị nhắc nhở, phê bình trong những lần họp bản.

Làng Aur cũng đã có điện phát bằng tua-bin ở ngoài suối nên đời sống người dân khá tiện nghi. Vài người dùng điện thoại di động, đã có sóng Viettel ở đây, dù hơi chập chờn! Ở nơi xa xôi heo hút này học sinh rất ham học khiến những giáo viên tình nguyện như thầy giáo Dương Đông cảm thấy ấm lòng.

< Mỗi gia đình đều chuẩn bị thức ăn mang về để tiếp khách.

Đêm xuống, bên ché rượu cần, đĩa cá niêng đãi khách, cả làng vây quanh bếp lửa hồng. Già làng Alăng Zèng từ tốn kể về lai lịch làng Aur. Theo đó, thuở xa xưa, Aur đông đúc lắm.

Trải qua hàng chục năm chiến tranh, nhiều gia đình phải sơ tán về làng Thượng Long *huyện Nam Đông, Thừa Thiên - Huế); một ít gia đình bám trụ lại. Đến năm 1990, một nhóm người đi săn mật ong rừng phát hiện có nhóm người Cơ Tu đang sống ở đây liền về báo với chính quyền xã Thượng Long.
Tuy nhiên, đường về nơi gần nhất của xã Thượng Long cũng mất 3 - 4 ngày đêm cắt rừng nên Aur chưa được sáp nhập xã này.

< Sản vật của rừng.

Đến năm 2003, khi phân định ranh giới, biết Aur thuộc huyện Tây Giang, Chủ tịch Bhríu Liếc đã nhận Aur về cho xã A Vương. Tất cả các hộ dân ở Aur đều đã được chính quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bây giờ, Aur là một trong những bản trù phú nhất của các bản thuộc huyện miền núi Tây Giang.
Rót chén rượu mời khách, mẹ Alăng Thảo - 80 tuổi, huyền thoại sống của Aur, nữ chiến sĩ du kích thời kháng chiến chống Mỹ - tự hào kể về những năm tháng đánh giặc ở ở thượng nguồn sông Hương.

Năm 1966, những viên đạn trong nòng súng của mẹ đã bắn rơi một chiếc máy bay giặc, bên trong đầy lính mắt xanh, mũi lõ. Có lần, mẹ đã hạ một con cọp dữ để bảo vệ dân làng.
Già làng Alăng Zèng gật gù: “Với người Aur, hơn 40 năm qua, mẹ Alăng Thảo là anh hùng của bản, của đồng bào Cơ Tu giữa đại ngàn”.

Già làng Alăng Zèng cũng là tấm gương của dân Aur. Ông luôn chịu khó băng rừng xuống xã tham gia các lớp tập huấn về kiến thức pháp luật cũng như phong trào xây dựng thôn bản văn hóa, sinh đẻ có kế hoạch, cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh"... rồi trở về làng hướng dẫn cho bà con. Nhờ đó mà làng Aur được no đủ, sạch sẽ, yên bình như hôm nay.

Sáng sớm ở Aur mây phủ là đà, se se lạnh giữa mưa phùn, một lát sau trời hửng nắng, “làng Singapore” hiện ra tinh tươm, trù phú giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ. Mùa xuân như đã đến sớm ở nơi này...

Du lịch, GO! - Theo Nguoilaodong, Bao Binhthuan

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2011

Những cung đường thách thức nhất miền Bắc

Là dân mê 'chủ nghĩa xê dịch', hẳn sẽ có nhiều điều thú vị trên từng cung đường, trên từng nơi bạn đến làm cho bạn say đắm và đam mê chúng.

Điều đó cũng giống như có người chỉ cần đi để dự những phiên chợ của vùng cao, có người đi chỉ để chụp những thửa ruộng bậc thang đang chín vàng hay xanh non mùa nước đổ, cũng có người đi chỉ vì cái núi non trùng điệp, cái hoang sơ của núi rừng, cũng có ai đó đã nói, đi chỉ vì được đi mà thôi. Và có một phần nhỏ trong cái hồn của núi rừng làm say đắm bao kẻ lãng du luôn là những cung đường, những con đèo.
Những cung đường, thôi thì đủ loại, đường quốc lộ được rải nhựa phẳng lì có, đường đất bằng phẳng có, đường đá cấp phối có, đường  bùn lầy có, đường mà cảm tưởng như không phải là đường cũng có, đường như là chỉ dành cho ngựa đi vậy mà dân xê dịch vẫn vác được cả con xe máy to oạch vào đó và chạy được, những cung đường offroad luôn hấp dẫn và làm thỏa chí những kẻ tang bồng.

Những con đường của vùng sơn cước như những sợi chỉ vắt ngang lưng chừng trời, nơi có những áng mây bay sà lên vai người lữ khách, nơi những khúc cua tròn xe, nơi gió núi heo hút mang hương của rừng, nơi những mái nhà bé nhỏ tỏa khói lam chiều khi hoàng hôn xuống, nơi những vạt hoa rừng nở thắm lối chân đi, nơi chín vàng của những mùa lúa, nơi những dòng thác thả  mình đổ xuống, nơi lịch sử dân tộc đã ghi danh…
Mê mải lắm, yêu lắm…những cung đường như thế.

Có những cung đường đã trở thành huyền thoại của dân tộc, những cung đường mà mới nghe tên người ta đã hơi rợn người lên rồi…
Đó, chỉ vậy thôi, chỉ là những con đường ngoằn ngoèo cheo leo nơi vách núi mà khiến cho những kẻ lãng du phải ngẩn ngơ vì chúng, càng đi càng máu đi… Yêu lắm những cung đường tổ quốc mình…

“Dốc Pha Đin anh gánh chị thồ. Đèo Lũng Lô anh hò chị hát”. Con đèo Phađin đã trở thành huyền thoại trong lịch sử kháng chiến chống Pháp. Được mệnh danh là một trong “tứ đại đỉnh đèo” của vùng núi phía Bắc Việt.
Phađin dài khoảng 32km nối liền 2 tỉnh Sơn La và Điện Biên. Hiện nay người ta đã làm thêm một con đèo nữa thấp hơn đèo Phađin cũ, xe cộ chủ yếu lưu thông theo con đường này. Còn đèo Phađin cũ giờ ít người qua lại, là địa điểm lý tưởng cho dân “phượt” thử sức mình.

Đèo Lũng Lô: Nằm trên QL 37 nối liền 2 tỉnh Yên Bái và Sơn La, đèo Lũng lô được biết đến nhiều trong chiến dịch Điện Biên Phủ, là con đường huyết mạch tiếp tế vũ khí và đạn dược cho chiến trường. Cùng với Phađin, đèo Lũng Lô đã làm nên huyền thoại những con đường đến Điện Biên Phủ.

Đèo Khau Phạ, tứ đại đỉnh đèo thứ 2 của miền Bắc Việt. Là con đèo nối liền giữa 2 huyện Văn Chấn và Mù Cang Chải của tỉnh Yên Bái, đèo Khau Phạ được dân tộc Thái gọi với cái tên khác là Sừng trời (chiếc sừng núi nhô lên tận trời).
Trên đỉnh đèo gần như quanh năm mây phủ, dưới chân đèo là những bản làng với những địa danh có ruộng bậc thang nổi tiếng như Cao Phạ, Tú Lệ, La Pán Tẩn…

Dốc Bắc Sum – người Hà Giang có câu: “Dốc Bắc Sum, hùm Cán tỷ, phỉ Đồng Văn”. Dốc Bắc Sum nằm giữa hai huyện Quản Bạ và Vị Xuyên của tỉnh Hà Giang, nơi cửa ngõ đi lên Cao nguyên đá Đồng Văn, con dốc cheo leo và hiểm trở, thực sự hút hồn những “phượt tử”.
< Có một con đường đi lên cao nguyên đá Đồng Văn – Hà Giang.
Ô Quy Hồ: Huyền thoại một cung đường. Một trong tứ đại đỉnh đèo, Ô Quy Hồ nằm trên QL 4D giữa 2 tỉnh Lào Cai và Lai Châu, vắt mình qua dãy Hoàng Liên Sơn hùng vĩ.
Ô Quy Hồ gần như là con đèo dài nhất miền Bắc Việt, với nhiều câu chuyện kể ly kỳ quanh đây, trên đỉnh đèo là Cổng trời, tách biệt khí hậu phía hai bên, những năm trời lạnh có thể có băng tuyết.
Đứng trên Ô Quy Hồ bạn có thề ngắm được dãy Hoàng Liên Sơn và đỉnh Fanxipan cao nhất Đông Dương (3143m).

< Con đèo nối liền giữa Xín Mần (Hà Giang) và Bắc Hà (Lào Cai).
< Con đường lên cột cờ Lũng Cú (nơi được xem là Cực Bắc của Tổ quốc).
< Đèo hình chữ B trên đường từ Lũng Cú về Đồng Văn (Hà Giang).
Đường lên Đồn Cao – Đồng Văn. Đồn Cao ngày xưa là một lô cốt của thực dân Pháp dựng lên, chiếm lĩnh trên đỉnh của một ngọn núi đá cao ngay trung tâm huyện lỵ đồng văn, nơi có con đường huyết mạch nối liền vùng cao nguyên đá với miền xuôi. Hiện nay vẫn còn lại những bức tường, những ụ súng, những lỗ châu mai…
Tà Si Láng, một xã xa xôi và hẻo lánh nhất của miền tây Yên Bái, ngày xưa con đường lên Tà Si Láng được xem là con đường cực khủng mà không phải ai cũng có thể dám bước chân đi, nơi có con đường vận chuyển gỗ Pơmu, và nơi đây những mái nhà của bà con dân tộc vẫn được lợp bằng gỗ Pơmu. Là một cung đường offroad rất thú vị cho những kẻ ưa khám phá.
< Đường vào Bạch Đích – Hà Giang.
< Một con đèo ngay trước khi vào Phố Cáo – Hà Giang.
< Một thắng cảnh đẹp đến say lòng của vùng cao nguyên đá.
Mã Pí Lèng – Tứ đại đỉnh đèo cuối cùng của miền Bắc. Mã Pí Lèng nghĩa là sống mũi con ngựa. Nằm trên con đường hạnh phúc, với độ cao hơn 2000m, một bên là vách núi đá cao dựng đứng, một bên nhìn xuống là dòng Nho Quế trong xanh.

Con đèo được bắt đầu khởi công ngày 10 tháng 9 năm 1959 và được xem là thi công thủ công gian khổ nhất, trên vùng cao nguyên cao nhất, nguy hiểm nhất, thời gian lâu nhất (mất hơn 6 năm), và cũng là bi tráng nhất. Hãy đến đây một lần, bạn sẽ thực sự bị chinh phục bởi Mã Pí Lèng huyền thoại.

Du lịch, GO! - Trần Giáp, Vietnamnet

Tìm chữ "Đèo" trong Du lịch, GO! để có rất nhiều bài viết liên quan.

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2011

Tá Miếu - xa mà gần

Tá Miếu (xã Sín Thầu, Mường Nhé, Điện Biên), bản biên giới nơi con gà gáy người dân ba nước đều nghe. Cột mốc số 0 đặt tại Tá Miếu phân định ranh giới ba nước Việt -Trung - Lào nằm trên núi Khoang La San, cao 1.864m, được xem là cột mốc đẹp nhất Đông Dương, cũng luôn là nơi thôi thúc những bước chân đi.

Nhắc tới ngã ba Việt - Trung - Lào, mọi người có thể hình dung ngay tới điểm cực tây Tổ quốc, nơi có cột mốc số 0, mốc đánh dấu điểm bắt đầu ranh giới đường bộ giữa ba quốc gia. Đây cũng là một điểm đến l‎ý tưởng của giới trẻ ưa du lịch những năm gần đây. Cung đường đi Mường Chà - Si Pha Phìn - Mường Nhé - Apachải luôn đẹp, cuốn hút mê lòng người.

Tá Miếu là bản vùng biên nằm chóp ngoài cùng bên trái vùng Tây Bắc với 31 hộ gia đình, 158 nhân khẩu. Đây là một xã mới thành lập nên còn nhiều khó khăn về đời sống vật chất cũng như tinh thần.

< Lớp 4 - Trường tiểu học Tá Miếu.

“Tá Miếu” có nghĩa là cái miếu to. Âm Tá hay Âm Tà (giống như tên cửa khẩu Tà Lùng ở Cao Bằng - nghĩa là rồng lớn) đều có nguồn gốc từ chữ Đại (hay Thái) trong tiếng Hán, nghĩa là to, lớn. Không ai biết ngôi miếu ra đời từ lúc nào nhưng một thời gian dài đây là nơi nghỉ chân, qua đêm cho những người lỡ đường khi băng rừng vượt núi.

Việc xây dựng trường, lớp ở Tá Miếu vẫn còn khó khăn, nhưng với cố gắng lớn của các thầy cô, chính quyền địa phương và những tấm lòng hảo tâm, các em đã có những lớp học được dựng tạm bằng tre nứa. Đồng chí Pờ Dần Sinh, bí thư xã Sín Thầu, là người đầu tiên đi xin thầy mang chữ về bản xóa mù cho bà con Hà Nhì.
  Your Ad Here

Những năm trước để leo được lên mốc số 0, bạn phải đến bản Tá Miếu và bắt đầu con đường bộ dài khoảng 8km qua đồi cỏ tranh và rừng rậm. Hiện giờ con đường rải nhựa dài hơn 60km từ trung tâm huyện Mường Nhé đã chạy qua cả bản lẫn đồn biên phòng 317 lên tới cửa khẩu với nước bạn Trung Quốc gần vị trí cột mốc số 2 và số 3.

Đường đi lên mốc số 0 hiện đã ngắn đi nhiều. Nếu đi nhanh chỉ mất khoảng 6 giờ cả đi lẫn về. Trong tương lai không xa, một con đường dành cho ôtô được mở tới sát chân mốc số 0, dành lại 90 bậc leo lên cột mốc, với ‎ ý nghĩa ngã ba biên giới, 30 bậc cho mỗi quốc gia.

Đã liên hệ trước nên khi chúng tôi đến, ông Pờ Dần Sinh - bí thư xã, anh L‎ý Ná Na - trưởng bản Tá Miếu, cùng các thầy cô giáo đã tập trung các em học sinh. Trường tiểu học Tá Miếu hiện có năm lớp, trong đó chỉ lớp 4 được tách riêng, còn lớp 1 và 2, lớp 3 và 5 là hai lớp ghép. Lớp mẫu giáo có 12 em cũng được tách riêng. Chuyến đi kỳ thú

Những món quà nhỏ mang tới tặng các em dù ‎chưa thật nhiều về giá trị. Mới chỉ là những chiếc cặp, những bộ đồng phục cùng bút, vở cho các em học sinh, mới chỉ là những con thú đồ chơi, những gói kẹo, hộp sữa… nhưng chúng tôi mong đó sẽ là ngọn lửa tinh thần cùng thắp trên con đường các em tới trường.

Nụ cười hồn nhiên của những cô cậu bé Hà Nhì ôm nhau ngồi trên con thú nhún, bài hát trong trẻo của cô bé học sinh lớp 4 Pờ Á Vơ mà tôi phải nghe hai lần mới rõ được tên, những ánh mắt, những cái nhìn… tất cả đều khiến cả đoàn hiểu rằng những gì mình làm là có ích.

Chia tay các thầy cô, cùng các em nhỏ Trường tiểu học Tá Miếu, chúng tôi quay lại đồn biên phòng 317. Đây là nơi các đoàn du lịch đều phải dừng chân, trình báo giấy tờ và được các anh bộ đội biên phòng của đồn hướng dẫn lên mốc số 0. Sau khi việc xây dựng lại được hoàn thành vào năm 2009, cơ sở vật chất của cán bộ chiến sĩ đồn 317 đã được cải thiện nhiều.

Về thủ tục chung, điều khách du lịch bụi cần là giấy giới thiệu của cơ quan hoặc địa phương nơi sinh sống, bản photocopy CMND (hoặc hộ chiếu) và mang tới Bộ chỉ huy bộ đôi biên phòng tỉnh Điện Biên. Sau khi được cấp phép lên mốc, các bạn tới đồn 317 để được hướng dẫn lên mốc.

Do có nhiều đoàn khách du lịch đến thăm nên giờ ngoài dãy nhà của chiến sĩ, đơn vị còn có cả dãy nhà dành cho khách. Anh em đơn vị giờ không phải xuống bản ngủ nhờ mỗi khi khách đến quá đông như những năm trước. Sóng điện thoại cũng đến được nơi đây hồi đầu năm, chấm dứt thời kỳ muốn gọi điện phải đi hơn 60km ra trung tâm huyện.

Con đường lên mốc số 0 giờ không còn bắt đầu từ bản Tá Miếu, mà sâu hơn nữa vào bên trong. Xe máy đi vào chừng hơn 3km rồi mới gửi xe lại chân đồi cỏ tranh. Dù đường đi đã ngắn hơn nhiều so với trước, nhưng vẫn phải khá vất vả mới có thể lên được đến nơi. Trong số các đoàn cùng xuất phát buổi sáng hôm đó, ba bạn trẻ đã phải quay ngược trở lại vì tự thấy không đủ sức đi tiếp.

Sau gần 3 giờ leo chúng tôi đến được điểm cực tây Tổ quốc, mốc số 0, ngã ba Việt - Trung - Lào. Cột mốc được làm bằng đá granit hình lăng trụ cao 2m, đặt trên bệ vuông mỗi cạnh dài 5m, ba mặt của mốc được viết bằng chữ quốc ngữ và khắc quốc huy của từng nước.

Luôn có những niềm tự hào và những cảm xúc khó tả khi ta được đặt chân tới những vùng miền xa xôi của tổ quốc. Thấy thêm yêu thương hơn đất nước của mình, cảm phục hơn những con người vẫn ngày đêm gắn bó với nơi này.

Chia tay Apachải, chúng tôi không đơn thuần kết thúc một chuyến đi, không đơn thuần đã đi và đã đến. Chúng tôi đã được hòa mình phần nào vào cuộc sống nơi này. Và vẫn mong sẽ có nhiều hơn nữa những chuyến đi như vậy, để mọi vùng miền tổ quốc càng trở nên gần gũi...

Du lịch, GO! - Theo Tuoitre

Thứ Hai, 9 tháng 5, 2011

Đèo Mã Pì Lèng

Từ thành phố Lào Cai tới đèo Mã Pì Lèng, thuận tiện nhất là đi theo tuyến Quốc lộ 70 tới Phố Ràng (Bảo Yên) rồi rẽ trái theo Quốc lộ 279 tới địa phận huyện Quang Bình (tỉnh Hà Giang) là gặp Quốc lộ số 2 từ Tuyên Quang đi Hà Giang ở Việt Quang. Tại ngã ba này, rẽ phải là xuôi qua Tuyên Quang về Hà Nội, còn rẽ trái sẽ tới thành phố Hà Giang, một thành phố vùng cao có những nét tương đồng với thành phố Lào Cai, tuy không có phường, xã nào có đường biên, mốc giới.

Từ Lào Cai, cũng có thể đi lên Bắc Hà, tới Lùng Phình rẽ phải qua huyện Xín Mần của Hà Giang là tới thành phố Hà Giang, nhưng đường rất xa, khó đi, qua địa bàn 18 xã, hiểm trở và hiện chưa được sửa chữa. Từ thành phố Hà Giang đi theo đường lên Đồng Văn với quãng đường gần 150 cây số, rồi từ Đồng Văn đi tiếp 10 cây số nữa lên Mèo Vạc, sẽ gặp đèo Mã Pì Lèng.

Mã Pì Lèng là tên gọi theo ngôn ngữ vùng biên giới, là "sống mũi ngựa" theo nghĩa đen. Nhưng theo nghĩa bóng, tên gọi này chỉ sự hiểm trở bậc nhất của đỉnh núi, nơi dốc cao đến mức ngựa đi qua phải bạt vía, lạc hơi.

Du lịch, GO!: Kỳ tích Mã Pí Lèng
Những con đèo tuyệt đẹp ở phía Bắc
Chinh phục những đỉnh đèo lẫy lừng phương Bắc

Đỉnh Mã Pì Lèng cũng là điểm phân giới ba xã Pải Lủng, Pả Vi và Xín Cái trong cao nguyên đá Đồng Văn, ngày nay là Công viên địa chất toàn cầu có độ cao trung bình 2.000m so với mặt nước biển, được tạo nên bởi một loạt trầm tích gồm đá phiến ánh, đá vôi silic chứa các hóa thạch cách đây khoảng 430 triệu năm, trong đó nhiều vết trượt và vết nứt do các hoạt động tạo sơn gây ra.

Cảnh quan khu vực này lởm chởm đá dựng, trong đó vực sâu sông Nho Quế như xẻ đôi một bên là đỉnh Mã Pì Lèng và một bên là Săm Pun - nơi có cột mốc biên giới và cửa khẩu thông thương từ Xín Cái sang Điền Bồng, Trung Quốc. Các học giả Pháp, từ cả trăm năm trước, đã gọi đỉnh Mã Pì Lèng nói riêng và Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn nói chung là một "Tượng đài Địa chất" mang tầm quốc tế. Đi trên đèo Mã Pì Lèng nhìn xuống vực sâu, con sông Nho Quế chỉ bé như một sợi chỉ. Nhìn thế thôi, mà muốn xuống đến bờ sông, muốn vẫy vùng trong nước sông Nho Quế phải mất đến hơn một ngày đường.

Trên địa hình chia cắt dữ dội, cung đường đèo Mã Pì Lèng rất hiểm trở, có độ dài khoảng 20km vượt đỉnh Mã Pì Lèng, đây chính là cung  trên con đường mang tên Hạnh Phúc nối thành phố Hà Giang với Đồng Văn và thị trấn Mèo Vạc. Con đường dài khoảng 200km này được hàng vạn thanh niên xung phong thuộc 16 dân tộc của 8 tỉnh miền Bắc Việt Nam làm trong 6 năm (1959 - 1965) với trên 2 triệu lượt ngày công lao động, trong đó riêng đoạn đèo vượt Mã Pì Lèng được các thanh niên trong đội cảm tử treo mình trên vách núi lấn từng centimet để làm đường trong 11 tháng.
Sau khi hoàn thành, đèo Mã Pì Lèng - với 9 khoanh uốn khúc bên vách đá dựng đứng bên vực thẳm hun hút - tuy không dài nhưng là con đèo hiểm trở ở vùng núi biên viễn phía Bắc, ngang ngửa với đèo Hoàng Liên Sơn phía Lào Cai - Lai Châu, tuy độ cao đỉnh đèo không bằng bên dãy Hoàng Liên. Cung đường đèo ban đầu được mở chỉ đủ rộng chỗ cho người đi bộ và xe ngựa thồ, về sau được mở rộng hơn cho ô tô, nhưng vẫn rất nguy hiểm vì những đoạn cua tay áo, hai xe ngược chiều rất khó tránh nhau.

Cung đường Mã Pì Lèng đã trở thành một kỳ tích mà nhiều người ví như một "Vạn Lý Trường Thành" của Việt Nam hay "Kim Tự Tháp" của người Mông cao nguyên Đồng Văn và các dân tộc anh em kết đoàn xuôi ngược. Trên đỉnh đèo được đặt một tấm bia đá ghi lại những dấu ấn xây dựng đường đèo. Đây cũng là nơi tưởng nhớ những người đã hy sinh, góp cả tính mạng mình làm nên con đường Hạnh Phúc.

Ngày 16 tháng 11 năm 2009, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã quyết định xếp khu vực Mã Pì Lèng là danh lam thắng cảnh quốc gia.

Theo đó, danh lam thắng cảnh Mã Pì Lèng bao gồm: đèo Mã Pì Lèng được coi là khu vực di sản đặc sắc về địa chất và cảnh quan; khu vực đỉnh đèo được đánh giá là một trong những điểm quan sát toàn cảnh vào loại đẹp nhất ở Việt Nam; hẻm vực sông Nho Quế là một trong những thung lũng kiến tạo địa chất độc nhất vô nhị ở Việt Nam.

Những người hay đi du lịch dã ngoại, giới nhiếp ảnh hoặc "dân" mỹ thuật, "dân" báo chí thường tự hào khoe với nhau mỗi khi tới được con đường Hạnh Phúc, lên đỉnh Mã Pì Lèng "chân đạp mây bay, tóc vờn gió núi", ngắm hình sông, thế núi vời vợi chất ngất, cảm nhận vẻ đẹp vô cùng của đất nước mình: "Trừ đèo Hoàng Liên Sơn ra, thì có lẽ tất cả các cua và đèo dốc trên khắp nẻo đường bộ trong cả nước dồn lại cũng không bằng ở cung đường Hạnh Phúc này".

Lên đây, ngắm cảnh quan hùng vĩ, tìm hiểu thêm về những hy sinh, mồ hôi xương máu của thế hệ anh dũng làm nên kỳ tích Mã Pì Lèng, không ai không cảm động khi chứng kiến diện mạo vùng cao biên giới đổi thay, con đường nâng bước cả cao nguyên xây dựng cuộc sống hạnh phúc, thỏa nguyện những người đã ngã xuống.

Du lịch, GO! - Trích báo Lào Cai

Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2011

Kỳ vĩ miền đất Dăk Nông (Đăk Nông)

Mộc mạc đến hoang sơ, hùng vĩ đến tưởng chừng dữ tợn, Dak Nông có sự kiêu kỳ của một cư dân vốn mang trong mình dòng máu bạt ngàn của núi rừng. Nơi đó có những điều thoáng nghe cứ ngỡ là cổ tích.

Được thiên nhiên ban tặng cho khí hậu hiền hoà, trải dài từ miền ôn đới sang nhiệt đới, Dăk Nông thừa hưởng những đặc điểm của người con núi rừng. Đến Dăk Nông, điều đầu tiên đập vào mắt du khách là những rừng thông dài tít tắp, xanh mơn mởn. Vào sâu hơn nữa, du khách sẽ được chiêm ngưỡng khu rừng nguyên sinh đậm chất nhiệt đới với những cây cổ thụ rêu phong vây kín chở đầy vết tích thời gian.

Một huyền thoại


Người Dăk Nông tự hào về quê hương mình như là nơi phát tích những ngọn thác đẹp, hùng vĩ và chứa đầy những huyền thoại, trong đó có Dray Sap kiêu hùng. Thác Dray Sap theo tiếng của người đồng bào dân tộc Êđê có nghĩa là thác khói.

Theo lời giải thích của người dân nơi đây thì sở dĩ thác có tên như vậy vì độ cao chọc trời của nó với những thác nước chảy trắng xóa; hơi nước bốc lên tạo thành lớp sương bay lên như làn khói mỏng toả cuối chân trời. Có thể nói rằng, đây là một trong những ngọn thác hùng vĩ nhất khu vực Tây Nguyên.

Dù được khai thác bao năm với mục đích du lịch nhưng Dray Sap vẫn giữ được nét hoang sơ, tự nhiên vốn có của mình và vẫn mang dang dấp của hồn thiêng của dân tộc. Đó là những vách đá sừng sững - bệ bám của hàng trăm loài dây leo như những con trăn dài khổng lồ nằm vắt vẻo lưng chừng núi. Bên trên vách đá là ngọn thác ầm ầm sôi sục suốt ngày đêm. Thượng nguồn của Dray Sap là thác Dray Nu, được xem là người anh em song sinh của Dray Sáp.

  Your Ad Here
Thác Dray Sap - một trong những thác lớn nhất khu vực Tây Nguyên, nằm cách Buôn Ma Thuột khoảng 39km, là thác hạ nguồn trong hệ thống 3 thác Gia Long - Dray Nur - Dray Sáp của sông Sêrêpôk, tỉnh Đắk Nông. Thác cao 20m nhưng trải rộng khoảng 100m, là thác duy nhất ở Tây Nguyên có 2 dòng trong đục. Địa hình thác nằm trong một khu vực nhiều hang động, cây rừng, dây leo chằng chịt, đường lên thác quanh co, gập ghềnh với những tảng đá đầy rêu phong tạo nên cảnh tượng rất hùng vĩ.


Truyền thuyết kể rằng, khi mẹ đất chuyển dạ, người anh là Dray Nu ra đời trước nhận những đức tính hiền hòa nhẹ nhàng của người mẹ. Dray Sap ra đời sau nên thừa hưởng sự hùng dũng, oai nghiêm cũng rất dữ dội của người cha. Chính vì lẽ đó mà Dray Nu thì chảy nhẹ nhàng êm đềm, còn Dray Sap thì ầm ầm cuộn cuộn làm rung chuyển cả góc trời. Liền kề trong cụm thác Dray Sap là thác Gia Long.

Theo lời nhiều người cao tuổi kể lại rằng: sở dĩ thác mang tên một vị vua triều Nguyễn vì xưa kia vua Gia Long đi kinh lý có ghé ngang qua thác để du ngoạn. Và ngày nay thác vẫn còn lưu lại bàn cờ mà vua Gia Long đã từng sử dụng.


Đặc sản của Rừng

Những ngọn tháp tuyệt đẹp, những âm vang kỳ bí của núi rừng khiến Dak Nông quyến rũ một cách hoang dại. Bên cạnh đó, điều khiến nhiều du khách mê mẩn có lẽ là thực phẩm rừng. Nếu một lần được ăn món gà rừng hầm “đọt mây” (hay còn gọi là ngọn mây), hẳn du khách sẽ không bao giờ quên. Địa danh

Thông thường, mây chỉ có giá trị làm các mặt hàng thủ công mỹ nghệ nhưng với người dân nơi đây, mây còn là một thực phẩm quý và chỉ được dùng để đãi khách phương xa mà thôi. Muốn có món gà rừng hầm đọt mây khao khách thì ngay từ ngày hôm trước những người đàn ông phải vào rừng tìm những cây mây thật cao lấy cho được những ngọn mây mới mọc cắt đem về. Sau đó là công việc của người phụ nữ. Họ phải cắt mây thành từng khúc nhỏ, lột bỏ cái vỏ xấu xí gai góc bên ngoài rồi bắc lên bếp luộc thật kỹ.

Gà dùng cho món ăn này là loại gà rừng chính tông, muốn ăn được, phải “săn”. Trọng lượng mỗi con chỉ từ 0,5kg đến 1kg. Tuy sức vóc khá khiêm tốn  nhưng không vì thế mà gà rừng có nhiều xuơng như những chú gà nhà. Ngược lại, thịt gà rừng rất thơm và mềm. Đưa một miếng thịt lên nếm thử, nhiều người chỉ biết trầm trồ, gắp một miếng mây kèm theo thì biết bao thú vị, bao cảm giác cứ đưa đẩy nơi đầu lưỡi. Mây non tơ, có vị giòn giòn, hơi nhân nhẫn đắng, tưởng như măng nhưng ngon và lạ hơn nhiều. Vị ngọt của gà thấm qua tường thớ mây, len lách cảm giác đê mê khó tả.

Ngoài ra, ở đây còn rất nhiều loài rau lạ mà chỉ cần nghe tên đã thấy tò mò muốn thử. Đầu tiên phải kể đến cây lá bếp. Đây là loài rau mọc dại ở bên bờ suối hoặc những nơi ẩm thấp. Chúng sống dai dẳng như loài cỏ dại và được người đồng bào thu lượm về nhà làm thực phẩm cho mình. Ngoài ra còn có rau tàu bay, loại này thường mọc ở trên các sườn đồi . Đây cũng là món ăn độc đáo của người dân khi lần đầu đi khai phá miền đất đỏ. Sỡ dĩ cây có tên là tàu bay vì hoa của cây khi nở xoè ra như những chiếc ô màu trắng, chỉ một ngọn gió nhỏ thổi qua làm các cánh hoa bay trắng góc trời. Nó có thể dùng nấu canh hay luộc đều rất ngon.


Người Việt Nam không ai là không biết món cà pháo, nó đã đi vào thi ca một cách bình dị nhưng thân thương, thoáng nghe ấm lòng ấm dạ. Nhưng người dân Tây Nguyên còn có một loại cà rất riêng mà nghe tên đã biết nguồn gốc của mình: cây cà dại. Đây là loại cây nhỏ, trái mọc thành chùm li ti như những chùm nho xanh. Cà hái về, nếu kỹ thì luộc chín, không thì ăn sống, nhâm nhi cùng chén muối ớt thật cay, không khéo một nồi cơm to vơi mãi mà chưa đủ.

Thật vậy, từng món ăn ở từng địa danh mà bạn đi qua đều thấm sâu trong đó tính cách, lối sống của con người vùng cao nguyên đất đỏ này. Đó là sự đơn giản đến không ngờ, tính nguyên sơ, nhưng ẩn sâu trong nó là những bí mật, những bí mật đang chờ bạn khám phá.

Du lịch, GO! - Theo Đất Việt