Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Di tích lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2011

Về Diêm Điền thăm khu lưu niệm Nguyễn Đức Cảnh

Một ngày đầu hè, tôi về Thái Thụy đến viếng thăm khu lưu niệm Nguyễn Đức Cảnh. Đến đây, được nghe người cháu ruột là ông Nguyễn Đức Môn gọi Nguyễn Đức Cảnh bằng chú kể về những kỷ niệm lúc sinh thời của cụ Cảnh, tận mắt chứng kiến khung cảnh nếp nhà xưa dựng lại trên nền đất cũ, đọc những tư liệu lịch sử nói về thân thế sự nghiệp của đồng chí Nguyễn Đức Cảnh... giúp tôi hiểu thêm rất nhiều điều về người chiến sỹ cộng sản lỗi lạc sinh ra trên quê hương đất biển Diêm Điền.

Đồng chí Nguyễn Đức Cảnh sinh ngày 2/2/1908 tại làng Diêm Điền, tổng Hổ Đội, huyện Thụy Anh (nay là thị trấn Diêm Điềnn, huyện Thái Thụy) trong một gia đình nhà nho giàu truyền thống yêu nước. Bản tính thông minh, Nguyễn Đức Cảnh được mẹ đưa về Cổ Am (Vĩnh Bảo, Hải Phòng) theo học trường Hương học.  Học xong bậc tiểu học ở Vĩnh Bảo, Nguyễn Đức Cảnh học tiếp ở trường Thành Chung (Nam Định). ở đây, đồng chí cùng nhiều bạn học đã tham gia các phong trào đòi thả Phan Bội Châu năm(1925), để tang Phan Chu Trinh năm(1926) và vì thế bị đuổi học.

Sau đó, đồng chí lên Hà Nội kiếm việc làm, tự nuôi sống mình và tìm đường đến với cách mạng, làm thư ký hiệu ảnh, dạy học rồi làm thợ sắp chữ ở nhà in  Mạc Đình Tư. Năm 1927, Nguyễn Đức Cảnh đã tìm đến và gia nhập  nhóm " Nam Đồng thư xã", sau tổ chức này phát triển thành Việt Nam Quốc dân Đảng.

Được dự lớp huấn luyện của Tổng bộ Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, qua các bài giảng và cuốn " Đường Kách mệnh" của Nguyễn ái Quốc, đồng chí Nguyễn Đức Cảnh thấy rõ chỉ có theo đúng đường lối cứu nước của Nguyễn ái Quốc thì mới giải phóng được dân tộc, đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân và đã tự nguyện gia nhập tổ chức tiền thân này của Đảng.

Tháng 3/1929, Chi bộ Cộng sản đầu tiên được tổ chức tại Hà Nội gồm 7 người tiêu biểu, trong đó có đồng chí Nguyễn Đức Cảnh. Tiếp đó, ngày 17/6/1929, Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập với sự đóng góp tích cực, to lớn của đồng chí Nguyễn Đức Cảnh. Đồng chí tham gia Ban chấp hành lâm thời, trực tiếp chỉ đạo tổ chức Công hội Đỏ.
  Your Ad Here

Ngày 28/9/1929, tại Đại hội thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ, đồng chí Nguyễn Đức Cảnh được bầu làm Tổng thư ký và phụ trách tờ báo " Lao động" và tạp chí " Công hội đỏ". Tại Hội nghị hợp nhất thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (từ ngày 3t/2 đến 7/2/1930 tại Hương Cảng, Trung Quốc), đồng chí Nguyễn Đức Cảnh được cử làm Bí thư Xứ uỷ Bắc Kỳ, trực tiếp làm Bí thư Tỉnh bộ Hải Phòng. Đồng chí đã kiện toàn 14 chi bộ với 100 đảng viên, phát triển các tổ chức Công hội Đỏ, Nông hội Đỏ, Thanh niên đoàn, Phụ nữ giải phóng và mở nhiều lớp huấn luyện chính trị, tổ chức ấn hành tờ " Sao đỏ" - cơ quan của Tỉnh Đảng bộ, tờ " Tia lửa" - cơ quan của tỉnh đoàn thanh niên.

Tháng 4/1930, đồng chí tổ chức đón, bảo đảm an toàn Tổng Bí thư Trần Phú về khảo sát phong trào công nhân Hải Phòng đồng thời đóng góp ý kiến thực tiễn giúp đồng chí Trần Phú khởi thảo Luận cương chính trị của Đảng năm 1930. Cuối tháng 10/1930, đồng chí được Trung ương Đảng điều động vào tham gia uỷ viên xứ uỷ Trung kỳ để tăng cường lãnh đạo phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh.

Tháng 4/1931 trên đường đi công tác, đồng chí Nguyễn Đức Cảnh bị địch bắt. Địch tra tấn dã man nhưng vẫn không lung lạc được người chiến sỹ cộng sản kiên trung, cuối cùng đồng chí bị thực dân Pháp kết án tử hình và bị chúng giết hại tại Hải Phòng vào ngày 31/7/1932. Thời gian bị giam cầm trong xà lim án chém, đồng chí Nguyễn Đức Cảnh vẫn bình tĩnh, tập trung sức để viết cuốn " Công nhân vận động", đây là bản tổng kết có giá trị chuyển ra cho Đảng.

Ghi nhận công lao đóng góp to lớn của đồng chí cho sự nghiệp cách mạng, năm 1980, những người con quê hương Thái Bình đã xây dựng khu lưu niệm Nguyễn Đức Cảnh ngay tại Diêm Điền. Và hơn 30 năm nay, kể từ ngày có khu lưu niệm, ông Môn chính là người đảm nhận công việc trông coi, dọn dẹp, đèn nhang, hương khói cho người chú ruột của mình.

Dù ở tuổi 82, nhưng ông vẫn còn minh mẫn lắm, khi kể chuyện nhớ chính xác từng sự kiện, không bỏ qua chi tiết nào. Vừa dẫn chúng tôi đi thăm một vòng, ông vừa kể: năm cụ Cảnh lên máy chém tôi mới 2 tuổi, sau này lớn lên thì được nghe những người trong gia đình kể lại những kỷ niệm lúc sinh thời của cụ. Khu lưu niệm được xây dựng trên chính mảnh đất hương hoả của 8 gia đình trong thân tộc cùng sinh sống có diện tích rộng 1.600m2. Khung cảnh nếp nhà xưa của gia đình cụ Cảnh lúc sinh thời gồm: ngôi nhà thờ Tổ (vốn là trường dạy học của ông thân sinh ra cụ Cảnh), nhà ở, nhà bếp được dựng lại nguyên vẹn trên nền đất cũ. Không gian thật giản dị, khiêm nhường, gợi lại hình ảnh nề nếp, gia phong của một gia đình nho giáo thời xưa. Dừng chân ở sân giếng phía sau nhà, ông Môn chỉ tay xuống đó nói: nơi này, hơn 100 năm  trước đã ghi dấu một thời khắc đặc biệt: sáng mùng 1 Tết năm Mậu Thân (1908) (tức là ngày 2/2/1908), cụ bà Trần Thị Thùy ra giếng múc nước rửa chân, bước một bước thì đẻ rơi cậu bé Nguyễn Đức Cảnh. Có điều rất đặc biệt là: mặc dù ở vùng ven biển, hầu hết nước giếng đều mặn và đục nhưng riêng giếng này cả trăm năm nay, nước vẫn ngọt và trong vắt, nhìn thấu tận đáy, người dân trong vùng đặt tên cho nó là giếng Ngọc. Hàng ngày, khách viếng thăm khu lưu niệm vẫn ra múc nước uống, rửa mặt cho mát.

Bên cạnh không gian nếp nhà xưa, khu lăng mộ Nguyễn Đức Cảnh được thiết kế rất đặc biệt. Khu lăng được xây nổi lên trên, phần mộ ở phía dưới tầng nổi. Là người duy nhất đại diện cho dòng họ trực tiếp tham gia cùng đoàn đi tìm mộ đồng chí Nguyễn Đức Cảnh, ông Môn kể rằng: " Cuộc hành trình khá gian truân, kể từ ngày đầu tiên nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng ở Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người về khu tưởng niệm làm việc phải mất ròng rã hơn 7 tháng trời, đến tháng 11/2007 mới đưa được hài cốt của cụ về đây an nghỉ ".

Bằng tấm lòng trân trọng người anh hùng của quê hương, những người  con Thái Bình  đã lấy đất sét tại nơi phát tích của nhà Trần (Tiến ĐứcT, Hưng Hà) đưa vào mộ của đồng chí Nguyễn Đức Cảnh. Ngay trong khu lăng mộ và nhà lưu niệm hiện trưng bày nhiều tư liệu lịch sử là những bài báo của thực dân Pháp viết sau khi đồng chí Nguyễn Đức Cảnh bị xử kín ; là những công trình nghiên cứu về thân thế và sự nghiệp của đồng chí; là hình ảnh khu pháp trường ở Hải Phòng xưa và nay; những văn bản pháp lý của Trung ương và của tỉnh về quá trình tìm hài cốt của lãnh tụ Nguyễn Đức Cảnh về an táng tại quê nhà…

Ông Nguyễn Duy Cam, Phó Chủ tịch UBND huyện Thái Thụy, Trưởng Ban quản lý khu lưu niệm Nguyễn Đức Cảnh cho biết: Từ khi tìm và đưa được hài cốt đồng chí Nguyễn Đức Cảnh về quê hương, khu lưu niệm ngày càng có nhiều đoàn khách trong  cả nước đến viếng, thăm quan và làm việc, riêng năm 2010 đã đón tiếp khoảng 1.800 lượt người.

Cũng vì thế mà hàng ngày ông Môn được tiếp chuyện với rất nhiều người, trong đó có một số bậc cao niên đến kể cho nghe những kỷ niệm lúc sinh thời về cụ Cảnh rất cảm động. Công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh khu lưu niệm cũng như việc trùng tu, tôn tạo, bảo quản di tích được đặc biệt quan tâm, chú trọng. Năm 2011, Ban quản lý sẽ hoàn thiện xây dựng 4 hạng mục công trình gồm: tường vây xung quanh, chống dột và chống mối cho nhà lăng mộ, hòn non bộ, làm hệ thống đèn chiếu sáng và trang trí... Thời gian tới, tiếp tục đề nghị Nhà nước hỗ trợ thêm kinh phí hoàn thiện các cơ sở vật chất, thiết bị tuyên truyền, bảo quản hiện vật tại nhà trưng bày để nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân địa phương và khách thập phương đến viếng thăm.

Đến thăm khu lưu niệm Nguyễn Đức Cảnh, du khách có cơ hội được biết thêm về mảnh đất quê hương Diêm Điền, cái nôi gia đình đã sinh ra người chiến sỹ cộng sản kiên trung của Đảng ta. Đồng chí không chỉ là cán bộ cách mạng lỗi lạc mà còn là nhà lý luận với những tác phẩm báo chí đầy tính chiến đấu. Với những đóng góp to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Nguyễn Đức Cảnh mãi mãi là tấm gương sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng để lại cho mỗi thế hệ chúng ta hôm nay và mai sau.

Du lịch, GO! - Theo báo Thái Bình

Thứ Ba, 3 tháng 5, 2011

Núi Cà Đú - Một địa danh lịch sử - Tỉnh Ninh Thuận

Núi Cà Đú nằm giữa vùng đồng bằng rộng lớn thuộc huyện Ninh Hải có độ cao 300m. Từ trên đỉnh núi du khách có thể thoả tầm mắt ngắm nhìn phong cảnh hữu tình của Đầm Nại, vẻ đẹp nên thơ của bãi biển Ninh Chữ, đồng lúa mênh mông và sự nhộn nhịp của thị xã Phan Rang - Tháp Chàm.

Càng lên cao núi Cà Đú càng thoáng mát bởi cấu trúc của các hang động. Từ đây du khách được ngắm nhìn bao quát khu du lịch biển Ninh Chữ, cánh đồng muối Phương Cựu, Đầm Vua, đồng lúa vàng của huyện Ninh Hải và xa xa là hòn núi Đá Chồng. Chính vẻ đẹp này đã góp phần tôn lên giá trị văn hoá của núi Cà Đú.

Với những tảng đá chồng chất lên nhau và nhiều hang lớn, lắm ngõ ngách nên núi Cà Đú khá hiểm trở. Chính địa thế này, từ những ngày đầu của phong trào cần vương, nghĩa quân đã chọn núi Cà Đú làm căn cứ chống Pháp.

Cũng từ đây, các đội trinh sát, các đơn vị vũ trang và cán bộ cách mạng suốt những năm tháng kháng chiến chống Mỹ đã bám trụ gầy dựng cơ sở, tổ chức diệt tề, trừ gian.

Cùng các chiến khu cách mạng của tỉnh lúc bấy giờ như Bác Ái, Anh Dũng, CK 35, CK 19, CK 7, căn cứ núi Cà Đú có vị trí rất quan trọng nằm giữa vùng bị tạm chiếm, gần dân nhất và cũng gần địch nhất, nhưng căn cứ Cà Đú lại bất khả xâm phạm. Mặc dù quân giặc tìm mọi cách tiêu diệt nhưng các trận càn quét, bao vây, phản kích của địch đều bị quân kháng chiến bám trụ ở núi Cà Đú đánh lui. Bao năm bám trụ chịu đựng mọi gian khó, lực lượng kháng chiến ở núi Cà Đú đã giữ vững niềm tin vào cách mạng, vào nhân dân quanh vùng.
  Your Ad Here

< Từ chùa Kim Sơn, nhìn ra có thể thấy cầu Khánh Hải bắc qua Đầm Nại, xa hơn nữa là núi Cà Đú. Đây là một cảnh đẹp ở làng Tri Thủy.

Núi Cà Đú là một nơi không thể sản xuất ra lương thực, ngay cả nguồn nước uống cũng cần sự tiếp tế, nắm được điều này địch đã dùng thủ đoạn quyết triệt tiêu mọi nguồn tiếp tế của dân cho các chiến sỹ cách mạng, Nhưng với lòng yêu nước nồng nàn, niềm tin sắc son vào con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, nhân dân ở khu vực xóm Dừa, Dư Khánh... đã không ngại gian khó, hy sinh tìm mọi cách tiếp tế lương thực cho du kích. Địch chặng đường bộ, nhân dân lại vận chuyển bằng đường thuỷ qua Đầm Nại.

Chính sự đùm bọc của nhân dân quanh vùng đã tiếp thêm sức mạnh , ý chí cho cán bộ cách mạng đang bám trụ ở núi Cà Đú và tạo nên những huyền thoại về các trận đánh “ Xuất quỹ nhập thần” của lực lượng kháng chiến. Chứng tích ấy, sau hơn một phần tư thế kỷ giờ đây vẫn còn lưu lại trong ký ức của nhân dân Ninh Thuận. Chính ý nghĩa lịch sử cách mạng trong suốt hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc đúng vào ngày 16/04/1999 - ngày kỷ niệm giải phóng NinhThuận, Uỷ ban nhân dân Tỉnh có quyết định công nhận núi Cà Đú là di tích lịch sử cách mạng của tỉnh. Di tích ấy cần được bảo quản, giữ gìn nhằm giáo dục truyền thống đấu tranh giữ nước hào hùng của cha ông cho các thế hệ con cháu .

Đối với thế hệ trẻ hôm nay, các em sinh ra và lớn lên khi đất nước hoàn toàn giải phóng, có lẽ khi được tham gia những chuyến hành trình về nguồn, được tận mắt chứng kiến nơi ngày xưa cha ông đã từng bám trụ chiến đấu, các em mới thấu hiểu được những khó khăn, gian khổ và những thử thách mà cha ông đã vượt qua giữ vững niềm tin sắt son vào sự nghiệp cách mạng, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Du lịch,GO! - Tổng hợp từ Ninhthuantourist và nhiều nguồn khác

Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2011

Huế - Diễm lệ những công trình

Cố đô Huế không chỉ nổi tiếng bởi vẻ đẹp của những tòa cung điện nguy nga tráng lệ mà còn ở nét diễm lệ của những công trình lăng tẩm, đình đền, chùa chiền… cổ kính nằm hòa mình duyên dáng trong một vùng cảnh quan thiên nhiên thơ mộng.
< Chùa Thiên Mụ, một trong những ngôi cổ tự nổi tiếng của Huế, được xây dựng vào năm 1601, lúc chúa Nguyễn Hoàng mới vào khai phá xứ Thuận Hoá (nay là Huế).

Nói đến các công trình kiến trúc cổ của Huế không thể không nhắc đến hệ thống lăng tẩm, nơi yên nghỉ của các vị vua triều Nguyễn. Mỗi công trình là một tác phẩm nghệ thuật tuyệt mĩ bởi chúng không chỉ thể hiện khả năng tài hoa của người thợ xứ Huế mà còn phản ánh cả cá tính mỗi vị vua lúc sinh thời.

Nhà Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu từ khi hoàng đế Gia Long lên ngôi vào năm 1802 và kết thúc vào năm 1945 khi hoàng đế Bảo Đại tuyên bố thoái vị, tổng cộng là 143 năm với 13 đời vua.

Hiện nay, ở Huế vẫn còn lại 7 khu lăng tẩm của 7 vị vua triều Nguyễn, trong đó đáng chú ý như lăng Gia Long, lăng Minh Mạng, lăng Tự Đức...
Nằm cách trung tâm thành phố Huế chừng 16km về phía Tây Nam, giữa một vùng quần sơn gồm 42 ngọn núi lớn nhỏ thuộc xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế có lăng Gia Long (còn gọi là Thiên Thọ Lăng). Đây là nơi yên nghỉ của vua Gia Long (1762 - 1820), vị vua đầu tiên trong số 13 đời vua nhà Nguyễn.
Lăng Gia Long được xây dựng vào năm 1814, có chu vi hơn 11 nghìn mét, trước mặt có núi Đại Thiên Thọ làm tiền án, hai bên tả hữu mỗi bên có 14 ngọn núi chầu vào tạo thành thế “tả thanh long” và “hữu bạch hổ”. Trong khuôn viên, trước mặt lăng có hồ bán nguyệt, sau hồ là sân chầu, tiếp đến là sân tế chia làm 6 bậc cao dần, cuối cùng là Bửu Thành, nơi đặt mộ phần của vua và hoàng hậu. Đây là khu lăng tẩm xây dựng giữa thiên nhiên. Đứng trước cảnh trí bao la khoáng đạt của lăng Gia Long, con người không khỏi cảm thấy mình trở nên nhỏ bé giữa vùng núi đồi bao la trùng điệp.

Cách trung tâm thành phố Huế chừng 12km về phía Tây Nam, nơi hợp lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch để hợp nhất thành sông Hương; trên núi Cẩm Khê, thuộc xã Hương Thọ, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế, có một ngôi lăng mộ nổi tiếng khác đó là lăng Minh Mạng (còn gọi là Hiếu Lăng). Đây là nơi yên nghỉ của vua Minh Mạng (1791 - 1841), vị vua thứ hai của nhà Nguyễn.
Lăng Minh Mạng rộng 26ha, là một tổng thể kiến trúc quy mô gồm 40 công trình lớn nhỏ nằm trên một khu đồi núi, sông hồ thoáng mát. Lăng được khởi xây năm 1840 và hoàn thành vào năm 1843.

Từ trên cao nhìn xuống hình thế lăng tựa dáng một người nằm nghỉ trong tư thế thoải mái với đầu gối lên núi Kim Phụng, chân duỗi ra ngã ba sông ở trước mặt, hai nửa hồ Trừng Minh ở hai bên lăng như đôi cánh tay buông xuôi tự nhiên mềm mại.
Cảnh quan lăng được tô điểm bởi nhiều công trình đẹp như hồ sen, đình tạ, vườn hoa, cây cảnh, rừng thông…

Trước lăng có 3 cửa, chính giữa là Đại Hồng Môn, hai bên là Tả Hồng Môn và Hữu Hồng Môn. Bên trong Đại Hồng Môn có sân chầu, hai bên có hai dãy tượng đá tạc hình bá quan văn võ và voi, ngựa đứng chầu.

Ngoài tính chất đăng đối, uy nghiêm, lăng Minh Mạng được đánh giá là có sức quyến rũ bởi cảnh trí thiên nhiên thơ mộng.

Vị hoàng đế thứ tư của triều Nguyễn là Tự Đức (1829 - 1883) cũng có một ngôi lăng mộ tuyệt đẹp với tên gọi là Khiêm Lăng mà dân gian thường gọi là lăng Tự Đức. Lăng được xây dựng giữa một rừng thông cổ thụ thuộc làng Dương Xuân Thượng (nay là thôn Thượng Ba, phường Thủy Xuân, thành phố Huế), cách trung tâm thành phố chừng 8km về phía Tây Nam. Đây là một trong những công trình đẹp nhất của kiến trúc cung đình thời Nguyễn. Lăng Tự Đức được xây dựng vào năm 1864 và hoàn thành vào năm 1867. Lúc còn sống, vua Tự Đức vẫn thường lên đây nghỉ ngơi, đọc sách, ngâm thơ…

Tổng thể kiến trúc lăng nằm trong một vòng La thành rộng khoảng 12ha, gồm gần 50 công trình kiến trúc lớn nhỏ. Khác với lối kiến trúc đăng đối thường thấy ở các lăng triều Nguyễn, lăng Tự Đức có phong cách kiến trúc tự do, phóng khoáng giống như tính cách lãng mạn của vị vua thi sĩ này.

Toàn cảnh lăng Tự Đức trông giống như một công viên rộng lớn. Ở đó có cảnh suối chảy, thông reo và những con đường lát gạch Bát Tràng lúc ẩn lúc hiện dưới tán thông già vi vu trong gió. Khung cảnh của khu lăng mộ hòa lẫn với cảnh quan thiên nhiên tạo nên một khung cảnh mây nước nên thơ, diễm lệ đến độ người đời cứ ngỡ đó là chốn thiên đường của cỏ cây, hoa lá chứ không phải là lăng tẩm của một người quá cố.

Tuy là nơi yên nghỉ của người đã khuất nhưng lăng Tự Đức còn có cả nơi dành cho nhà vua giải trí, ngâm thơ, đọc sách, làm việc lúc sinh thời. Thậm chí ở đây còn có cả nhà hát và nơi ở của các phi tần mĩ nữ. Đặc biệt, lăng tự Đức còn có tấm bia đá lớn khắc bài “Khiêm Cung kí” dài 4.935 chữ do vua Tự Đức soạn thảo để tự nói về cuộc đời, vương nghiệp cùng những lỗi lầm và sai phạm của mình.

Trong số các lăng triều Nguyễn, lăng Khải Định (còn gọi là Ứng Lăng) là công trình duy nhất có lối kiến trúc pha trộn giữa Đông và Tây. Đây là nơi yên nghỉ của vua Khải Định (1885 - 1925), vị hoàng đế thứ 12 của triều Nguyễn. Lăng toạ lạc trên núi Châu Chữ (còn gọi là Châu Ê), thuộc xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên - Huế, cách thành phố Huế khoảng 10km về phía Tây Nam.
< Lăng Khải Định (còn gọi là Ứng Lăng), là công trình lăng mộ duy nhất có lối kiến trúc pha trộn giữa Đông và Tây. Đây là nơi yên nghỉ của vua Khải Định (1885 - 1925), vị hoàng đế thứ 12 của triều Nguyễn.

Điểm nổi bật của lăng Khải Định là sự pha trộn giữa nhiều trường phái kiến trúc khác nhau như Ấn Độ giáo, Phật giáo, Roman, Gothique… Đặc biệt, lăng Khải Định nổi tiếng với nghệ thuật khảm sành đầy tinh xảo và 3 bức bích họa “cửu long ẩn vân” tuyệt đẹp, lớn bậc nhất Việt Nam, được trang trí trên trần của 3 gian nhà giữa trong cung Thiên Định.

Ngoài các công trình lăng tẩm, Huế còn sở hữu hàng trăm công trình kiến trúc cổ nổi tiếng khác như: đàn Nam Giao, chùa Thiên Mụ, Hổ Quyền, Văn Thánh Miếu, Võ Thánh Miếu, trấn Bình Đài, trấn Hải Thành, điện Voi Ré, điện Hòn Chén, cung An Định… Những công trình này cùng với cảnh sắc thiên nhiên thơ mộng không chỉ tạo cho Huế hình thế của một cố đô cổ kính, nên thơ và tráng lệ mà còn góp phần tạo nên một quần thể kiến trúc độc đáo xứng danh là Di sản Văn hóa Thế giới.

Theo Báo ảnh Việt Nam

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2011

Thành Hoàng Đế - di tích lịch sử thời Tây Sơn

Thành Hoàng Đế được Nguyễn Nhạc chọn xây dựng kinh đô của vương triều Tây Sơn dựa trên thành Đồ Bàn của Chămpa. 
Thành Hoàng Đế cũng như các kinh thành khác gồm 3 vòng thành, với chu vi 25 dặm. Thành ngoài với nhiệm vụ bảo vệ kinh thành, ngày này vẫn còn những đoạn thành với chân thành rộng hơn 10m và cao 6m, những lũy tre bảo vệ thành vẫn xanh như từ thuở nào ...

Sau khi qua lũy thành bạn đi thắng vào Hoàng thành, cũng được xây dựng như thành ngoài, đắp đất, bó đá ong hai mặt.
Hình ảnh bắt gặp đầu tiên nới Tử Cấm Thành là hai tượng voi bằng đá phục trước cổng thành. Qua nghệ thuật điêu khắc đá cho thấy là của thành Đồ Bàn Chămpa để lại, mà hiện nay vẫn uy nguy cùng vời thời gian.



Tử cấm thành với chu vi 600m, những đoạn tường của tử cầm thành hiện nay vẫn còn với chiều cao trung bình 1.8m có đoạn cao đến 3m, tường xây thẳng bằng đá ong. Qua nhiều lần khai quật tại thành đã lộ rõ nhiều công trình kiến trúc chứng tỏ vường triều Thái Đức đã phát triển trên đất này. Đó là nền chính điện, nền điện bát giác với gạch bát tràng và đá trắng Chămpa.

Rồi hai Hồ bán nguyệt đối xứng qua điện bát giác, quan sát hồ làm ta phải ngạc nhiên với những dãy đá san hồ, những bậc đá gắn vào hồ, mà từ nền hồ ta thả chân vào vừa tầm chân, tha hồ đùa chơi với nước như là "xây hồ bán nguyệt cho nàng rủa chân vậy", không biết cách đây hơn 200 năm đôi chân thon của nàng công chúa nào đã chơi đùa nơi đây. Ngoài hai hồ bán nguyệt, đợt khai quật còn lộ một hồ hình trái tim.

< Tượng voi đá điêu khắc Chămpa.
Trong thành còn xây cung điện cho các công chúa mà từ đây có thể nhìn thấy Tháp Cánh Tiên-một di tích trong Kinh Thành. Những cây sung cổ thụ mấy trăm năm tuổi bên hòn giả Sơn, làm hình dung hình bóng vua tôi ngồi suy nghĩ việc nước. Rồi cái giếng vuông ở góc thành, lát đá ong mà nước đến bây giờ vẫn trong xanh dù cho thời gian cây cỏ vô tình che lắp.

< Nền điện Bát Giác khai quật với gạch Bát Tràng và dã tràng Chămpa.
< Giả sơn và cây cổ thụ trong Tử cấm thành.

Thành Hoàng Đế còn chứng kiến những trận đánh giữa Nhà Tây Sơn và Nhà Nguyễn mà trận đánh bao vây thành của hai tướng Tây Sơn là Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng với Võ Tánh vào tháng 5 năm 1801, biết cầm cự không nổi với quân Tây Sơn, Võ Tánh tự thiêu và quan văn là Ngô Tùng Châu uống thuốc độc tự tử.

Sau khi nhà Tây Sơn sụp đổ, nơi đây làm nơi thờ "Song Trung" Võ Tánh và Ngô Tùng Châu mà khi chiếm thành, Trần Quang Diệu đã tha chết cho tám ngàn quân Nguyễn và chôn cất hai vị và cảm khái tự tay khắc hai chữ trên.

< Mộ Võ Tánh trong thành.

Tuy thành Hoàng Đế chỉ còn là di tích lịch sử, nhưng văn hóa, và những làng nghề xung quang thành vẫn còn như từ thuở nào.

Không nhiều như "36 phố phường" của thành Thăng Long, nhưng xung quanh thành Hoàng Đế vẫn còn nhiều làng nghề rộn ràng sản xuất như: làng gốm Vân Sơn, làng dệt Phương Danh, làng đúc đồng Bằng Châu, làng tiện gỗ, làng nón ...cho thấy một kinh thành nhộn nhịp ngựa xe và phồn hoa làm lòng ta thấy nao nao mà nghĩ về một huyền tích kinh xưa*.

Theo web Donghuong Binhdinh

Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2011

Đường Trường Sơn huyền thoại

Có dịp về Quảng Bình, mời bạn ghé thăm tuyến du lịch sinh thái đường Trường Sơn huyền thoại. Đó là đường 20 - Quyết thắng bắt đầu từ bản làng Phong Nha xinh đẹp, bên dòng song Son xanh biếc đến ngã ba Lùm Phùm ( tỉnh Khăm Muôn - Lào ) rồi thông với đường 9. 

Với chiều dài 123 km, đường 20 - Quyết thắng được coi là đầu mối quan trọng trong chiến lược vận tải của đường mòn Hồ Chí Minh lịch sử. Lãnh đạo Bộ tư lệnh Binh đoàn 559 đặt cho con đường cái tên 20 bởi lẽ bộ đội, TNXP, công nhân và dân công  ba sẵn sàng đã tham gia mở, xây dựng và bảo vệ con đường này hầu hết ở lứa tuổi 20. Đây là con đường huyết mạch phá thế độc đạo, nối đông Trường Sơn với tây Trường Sơn, giành thế chủ động thắng lợi trên mặt trận giao thông - vận tải nên còn có tên gọi: Đường 20 - Quyết thắng.

Trong những năm giặc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, chúng đã tập trung đánh phá cực kỳ khốc liệt các trọng điểm A-T-P ( cua chử A, ngầm Ta Lê, đèo Punlanhic ), Trạ Ang, km 12, km 16,5 ...biến nơi đây thành những toạ độ lửa nhằm ngăn chặn sự chi viện của hậu phương đối với tiền tuyến.

Hàng vạn cán bộ, bộ đội, TNXP, công nhân, dân công hoả tuyến, đồng bào các dân tộc... đã lao động quên mình và chiến đấu kiên cường, vừa đánh địch, vừa xẻ núi, bạt đèo, đào đắp hàng triệu khối đất đá để mở đường, thông tuyến, chi viện kịp thời sức người, sức của cho các chiến trường đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Bia đá tưởng niệm đường 20 - Quyết thắng khắc những dòng chữ vàng trong đó có câu: " Vưon cao muôn trượng bóng anh hùng/ Toả sáng mười phương gương dũng liệt ... "

Giờ đây trên con đường huyền thoại này có nhiều điểm du lịch sinh thái, lịch sử đang được đầu tư, đưa vào khai thác. Đó là Thác Gió với thác nước đẹp như tranh cùng những cơn gió mát lành quanh năm được điều hoà bởi thác nước, cây rừng; Đó là Rừng Gáo - khu rừng nguyên sinh thuần loài Gáo, diện tích 15 ha, cây cao, thẳng, tán rộng.

< Thác Gió.

Dưới chân rừng Gáo là thảm cỏ và lá lốt xanh tươi rất ấn tượng.; Đó là cầu Trạ Ang - trọng điểm đánh phá ngăn chặn ác liệt của không quan Mỹ, nơi hàng trăm bộ đội, TNXP anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, nay trở thành một trong những di tích lịch sử quốc gia đường Hồ Chí Minh.
< Bãi tắm.

Sắp tới cạnh cầu Trạ Ạng về phía đông bắc, Nhà nước sẽ đầu tư xây dựng Bảo tàng Hồ Chí Minh ngoài trời với quy mô rộng lớn lưu giữ dấu tích oanh liệt của dân tộc một thời; Đó là Hang 7 tầng, nơi ở và làm việc của Bộ tư lệnh Binh đoàn 559; Đó là Bãi tắm tại km 15 - bức tranh sơn thuỷ hữu tình - điểm dừng chân lý thú cho du khách về với con đường huyền thoại.Nơi đây có những bãi cát óng vàng. Hai bên bờ là hai hàng Đỗ Quyên nở hoa màu trắng, hương thơm ngào ngạt, hấp dẫn và quyến rũ.
< Suối Nước Moọc.

Thú vị hơn là có những hòn non bộ án ngữ giữa bãi tắm như có bàn tay thần tiên tạo nên thật độc đáo với tính nghệ thuật cao. Đó là suối Nuớc Moọc trong xanh, có những phiến đá lớn với những hoa văn đẹp nằm dưới những tán cây cao, tạo nên môi trường mát mẽ, trong lành; Đặc biệt là Hang 8 cô tại km 16,+ 5. Đây là hang đá sâu 20 m, rộng 10 m, cao 9 m - nơi 8 chiến sĩ TNXP bị bom Mỹ vùi lấp miệng hang bằng khối đá khổng lồ (khoẳng 100 tấn) vào chiều 14/11/1972.

Đồng đội đã tìm mọi cách để cứu, đã dùng đến 3 xe xích hợp lực lại để kéo nhưng khối đá không hề lay chuyển. Nếu dùng bộc phá thì những người bị lấp trong hang sẽ không còn. Đồng đội chỉ còn cách dùng ống ti rô luồn qua khe đá, rồi nghiền cháo, lương khô, thuốc B1 hoà với nước đổ vào đầu ống ti rô cho chảy vào phía trong với mong muốn những người trong hang tiếp nhận.

Văng vẳng trong hang vọng ra tiếng kêu con gái : " Cứu chúng em với ". Đến ngày thứ 9 thì trong hang tiếng kêu không còn ... Tháng 3/1976 Sở Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Bình đã tháo gở tảng đá lấp cửa hang, tìm và đưa hài cốt 8 TNXP về với quê hương và gia đình. Một phần tảng đá được đưa về đặt tại Tượng đài TNXP, km 02. Chính nơi đây nhà bia tưởng niệm " Hang 8 cô " cùng những anh hùng, nghĩa liệt đường 20 - Quyết thắng được xây dựng khang trang.
< Nhà bia tưởng niệm " Hang 8 cô " cùng những anh hùng liệt sĩ đường 20 - Quyết thắng.

Địa danh này đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia, trở thành địa chỉ đỏ thu hút  bao thế hệ tìm về lịch sử của dân tộc, sống lại chiến trường xưa. Mời bạn bước lên bậc đá, nghiêng mình tưởng niệm 8 liệt sĩ còn rất trẻ và nhớ lại sự kiện đau thương và bi tráng, thấm đẫm chất anh hùng ca một thời. Cách hang 8 cô không xa có động Thiên đường mới được khám phá  đẹp như tên gọi đang chuẩn bị đưa vào khai thác.

Điều muốn nói là những địa danh nêu trên đều nằm trong quần thể Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Đến đây, ngoài việc tham quan và chiêm ngưỡng vẻ đẹp huyền ảo của các hang động Phong Nha, Thiên đường bạn sẽ rất thuận tiện khi ghé thăm tuyến du lịch sinh thái đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Tuyến du lịch lịch sử và huyền thoại này đang chào đón các bạn.

Theo blog Nguyenxuantu

Thứ Năm, 31 tháng 3, 2011

Mùa Xuân thăm Văn miếu Mao Điền

Nằm cách thành phố Hải Dương không xa, khoảng 15km về phía Tây, Văn miếu Mao Điền được biết đến là một công trình kiến trúc cổ kính, có lịch sử mấy trăm năm, thờ Khổng Tử và tôn vinh các bậc Đại khoa nho học tiêu biểu cho truyền thống văn hiến của trấn Hải Dương xưa. 

Trong số ít các Văn miếu đến nay còn tồn tại ở Việt Nam, khu di tích lịch sử cấp quốc gia này có qui mô lớn thứ hai, chỉ sau Văn miếu Quốc Tử Giám tại Hà Nội. Nơi tôn vinh truyền thống hiếu học của dân tộc

Những ngày đầu Xuân, rất nhiều du khách tìm đến Văn miếu Mao Điền, để thăm thú, chiêm ngưỡng một công trình văn hoá tiêu biểu của đất nước và dâng hương tưởng nhớ các bậc danh nhân, hiền tài của nước Nam.

< Tam quan Văn miếu Mao Điền.

Nhìn từ xa, Văn miếu Mao Điền trông như một toà thành lớn, nổi bật giữa màu xanh của những ruộng lúa Xuân mới cấy. Qua cổng Tam quan đồ sộ là khoảng sân rộng dẫn lên cây cầu đá cong cong duyên dáng. Bên hồ nước xanh, cây gạo cổ thụ có tuổi đời hơn 200 năm vẫn đang trổ lộc non trong tiết Xuân ấm áp. Phần chính của Văn miếu gồm hai toà nhà lớn là Bái đường và Hậu cung có mái cong vút, chạm trổ hình rồng, phượng. Lầu chuông đồng, trống đại ở hai bên tả, hữu trước dãy điện thờ chính được thiết kế theo phong cách kiến trúc truyền thống với hai tầng tám mái bằng gỗ lim giản dị mà đẹp mắt. Những hàng cây cảnh, cây ăn quả xanh mát bao bọc xung quanh, tạo nên vẻ đẹp yên bình, tôn nghiêm của khu di tích.

Chính điện Hậu cung là nơi đặt tượng đồng, ngai thờ và bài vị thờ Khổng Tử, nhà tư tưởng xuất sắc thời cổ đại và 8 vị đại khoa tiêu biểu cho các lĩnh vực, thời đại của nước ta, đó là: Đại danh y thiền sư Tuệ Tĩnh, Nhập nội hành khiển Phạm Sư Mạnh, Nhà giáo Chu Văn An, Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi, Danh nhân văn hóa thế giới - anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi, Trình quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm, Thần toán Vũ Hữu và Nghi ái quan - nữ Tiến sĩ đầu tiên trong hệ thống khoa cử nước ta Nguyễn Thị Duệ. Trong không gian thâm nghiêm, hương trầm thơm ngát, du khách thập phương thành tâm tưởng nhớ các bậc danh nhân, lòng càng thêm khâm phục gương sáng các bậc tiên hiền, tự nhủ lòng mình hãy rèn luyện, học hỏi để trở thành những người con hữu dụng của quê hương, đất nước.

< Bái đường và Hậu cung, nơi thờ Khổng Tử và 8 vị đại khoa tiêu biểu trong lịch sử Nho học Việt Nam.

Đến với Văn miếu Mao Điền, du khách còn có dịp hiểu thêm về truyền thống hiếu học của nhiều thế hệ xứ Đông qua những hiện vật trưng bày tại nhà truyền thống nằm trong khuôn viên khu di tích do ngành Giáo dục- Đào tạo Hải Dương kết hợp với Bảo tàng tỉnh xây dựng. Đây là nơi diễn ra các hoạt động Lễ hội truyền thống, tuyên dương học sinh giỏi, gặp mặt các các vị Tiến sĩ Hải Dương hiện tại, hội thảo khoa học, diễn xướng văn nghệ dân gian…

Văn miếu Mao Điền - Lịch sử lừng lẫy

Ngược dòng lịch sử, trước năm 1945, Mao Điền là một xã thuộc tổng Mao Điền huyện Cẩm Giàng, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương. Theo văn bia ghi lại, từ xa xưa vùng đất này vốn bằng phẳng, có nhiều cỏ lau mọc tươi tốt, tên gọi Mao Điền cũng xuất phát từ đó, bởi “Mao” có nghĩa là cỏ lau, “Điền” là ruộng cấy. Từ giữa thế kỷ thứ XV, nhà Lê với chủ trương mở mang việc học hành và đào tạo nho sĩ, quan lại, đã cho xây dựng một loạt trường học trên đất nước, trong đó có Văn miếu Mao Điền.

< Lầu trống đại trước sân điện thờ.

Ngay từ thuở ban đầu, Văn miếu đã là một công trình kiến trúc văn hóa bề thế, uy nghi. Công trình đặt trên một gò đất cao, gồm 5 gian Bái đường và 3 gian Chính tẩm. Đồng thời với Văn miếu là trường thi Hương của trấn Hải Dương, được xây tại xã Mao Điền, huyện Cẩm Giàng. Hai công trình cách nhau khoảng 1km theo đường chim bay. Với vị trí địa lý nằm ở phía Đông Kinh thành Thăng Long xưa, xứ Hải Dương còn được gọi là xứ Đông, là vùng “đất học”, vì thế triều Lê đã coi đây là một trong những trung tâm văn hoá - giáo dục của cả nước, tiến hành tổ chức nhiều kỳ thi Hội. Hàng năm đến kỳ thi, sĩ tử ở khắp nơi tề tựu về đây dựng lều chõng kín khắp cả khu cánh đồng Tràng phía trước.

Đến thời Tây Sơn (1788-1802), để thuận tiện cho việc quản lý của bản trấn, Văn miếu được di chuyển từ xã Vĩnh Lại, huyện Đường An về xã Mao Điền huyện Cẩm Giàng, hợp nhất với trường thi Hương (nay là Văn miếu Mao Điền và cánh đồng Tràng). Qui mô Văn miếu rộng tới 10 mẫu (3,6ha), được xây dựng theo hướng Nam gồm các hạng mục: Bái đường, Hậu cung mỗi tòa 7 gian, xây theo kiểu chữ Nhị; hai dãy nhà giải vũ 5 gian đối diện nhau, do nằm ở hai hướng đông và tây nên người dân nơi đây vẫn quen gọi là nhà Đông vu, Tây vu, gác Khuê Văn, gác chuông, gác Khánh, đài Nghiên, tháp Bút, Nghi môn, Thiên quang tỉnh và Khải thánh thờ Thân phụ và Thân mẫu của Khổng Tử.

Các hạng mục đều được qui hoạch cân đối và đẹp mắt trở thành nơi diễn ra các hoạt động tế lễ và học tập rất đông vui. Hàng năm, vào ngày Đinh, đầu tháng “trọng Xuân” (tháng Hai) và “ trọng Thu” (tháng Tám), trấn Hải Dương đều tổ chức tế lễ Khổng Tử. Các quan đầu trấn, đầu phủ, cùng cử nhân, tiến sĩ về làm lễ trọng, nêu cao truyền thống “Hiếu học” và “Tôn sư, trọng đạo”.

Trong thời đại phong kiến, hệ thống cơ sở thờ tự Khổng Tử và tôn vinh các đại khoa nho học được xây dựng ở hầu hết các địa phương. Tại Kinh đô và các trấn (lộ, xứ) có các Văn miếu, còn các làng xã có các Văn chỉ. Tùy theo sự học phát triển mà các địa phương xây dựng Văn miếu, Văn chỉ với qui mô khác nhau. Trải dài suốt mấy trăm năm tồn tại, Văn Miếu Mao Điền từ vị trí là trường học của riêng trấn Hải Dương đã trở thành trường thi của cả vùng, có một lịch sử lừng lẫy trong đất nước, góp phần giáo dục và đào tạo nhân tài cho địa phương và cho cả giang sơn xã tắc. Nếu chỉ tính số người đỗ đại khoa trong 185 kỳ thi từ năm 1075 đến năm 1919, cả nước có 2898 tiến sĩ thì riêng trấn Hải Dương có 637 vị, trong số 46 Trạng nguyên, Hải Dương có 12 người. Sau khi đỗ đạt, hầu hết các vị đại khoa đều mang hết tài năng của mình để góp phần xây dựng đất nước.

< Toàn cảnh Văn miếu Mao Điền với cây gạo cổ thụ tương truyền được trồng từ năm Cảnh Thịnh thứ 9 (1801).

Văn miếu Mao Điền tồn tại khá nguyên vẹn cho tới năm 1947. Sang đến năm 1948, giặc Pháp tới chiếm đóng và lập quận Mao Điền. Suốt một thời gian dài chiến tranh, đạn bom phá huỷ, không được chăm sóc, Văn miếu dần hư hại, xuống cấp nghiêm trọng cho tới năm 1991, công trình được cán bộ và nhân dân xã Cẩm Điền đóng góp công đức, tu bổ sửa chữa lại. Năm 1992, công trình văn hoá tiêu biểu này được Bộ Văn hóa Thể thao (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng là Di tích Lịch sử Quốc gia. Đến nay, trải qua nhiều lần trùng tu và tôn tạo, được sự đầu tư, hỗ trợ của các ban, ngành Trung ương và địa phương cùng những đóng góp, công đức của nhân dân, khu di tích đã dần lấy lại vẻ uy nghi, bề thế xưa kia.

Hàng năm, Văn miếu Mao Điền đón tiếp hàng chục vạn du khách thập phương, các nhà giáo, học sinh, sinh viên các cấp học về tham quan chiêm bái… Những ngày đầu Xuân mới, nhiều gia đình đưa con em đến thăm Văn miếu Mao Điền để xin chữ đầu năm lấy may, thắp hương tưởng nhớ các bậc hiền tài được thờ tự tại Văn miếu và cầu mong các vị tiên hiền phù hộ cho mọi người bền gan vững chí phấn đấu, rèn đức, luyện tài góp phần xây dựng đất nước Việt Nam tươi đẹp.

Theo Quehuong online

Thứ Tư, 30 tháng 3, 2011

Khám phá vùng đất ngã ba Đông Dương

Ngã ba Đông Dương nổi tiếng trong kháng chiến chống Mỹ năm xưa, ngày nay đang trở nên hấp dẫn du khách trên hành trình tới thăm tỉnh Kon Tum - cực bắc Tây Nguyên Việt Nam.

< Bia di tích lịch sử quốc gia đường Hồ Chí Minh đông Trường Sơn (1967-1975) tại thị trấn Plây Cần, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum.

Địa danh ngã ba Đông Dương trên dãy Trường Sơn hùng vĩ luôn nằm trong ký ức của bao nhiêu lớp cán bộ, bộ đội, thanh niên xung phong trên đường vào chiến trường miền Nam, chiến trường C. (Lào), chiến trường K. (Campuchia) trong những năm đánh Mỹ với bao hy sinh, gian khó. Đây là vùng đất được mệnh danh là nơi tiếng gà gáy cả ba nước cùng nghe.

Ngày nay, vùng đất này đang trở thành một trong những điểm du lịch hấp dẫn giới trẻ và du khách quốc tế với các địa danh đã đi vào lịch sử như: ngã ba Đông Dương (nơi đường Trường Sơn Tây gặp đường Trường Sơn Đông thời kháng chiến), di tích lịch sử chiến thắng Đắc Tô - Tân Cảnh tháng 4-1972...

< Cột mốc biên giới 3 nước.

Đặc biệt, ở đây còn có cột mốc biên giới  do ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia cùng thống nhất xây dựng trên đỉnh núi cao 1.086m so với mặt biển, là vị trí giao điểm đường biên giới ba nước và cách thị trấn Plây Cần khoảng 30km.

Cột mốc này do tỉnh Kon Tum tổ chức thi công xây dựng tháng 12-2007 dưới sự giám sát của chuyên gia ba nước và được đại diện Bộ ngoại giao ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia cùng làm lễ khánh thành trọng thể vào ngày 18-1-2008.

Cột mốc nặng 900kg, làm bằng đá hoa cương hình trụ tam giác, cao 2m và trên mỗi mặt cột mốc quay về mỗi nước được gắn quốc huy, năm cắm mốc và tên quốc gia đó bằng chữ màu đỏ của chính nước đó.

Ở biên giới Việt Nam, đây là cột mốc thứ hai cùng ghi danh cả ba quốc gia cùng với cột mốc của ba nước Việt Nam - Lào - Trung Quốc thống nhất xây dựng ở Apachải (Điện Biên).
Từ cột mốc ngã ba biên giới, du khách có cơ hội ngắm nhìn toàn cảnh vùng đất ngã ba Đông Dương đã từng nổi tiếng trong kháng chiến chống Mỹ (1967- 1975) và ngày nay đang cùng nhau xây dựng vùng tam giác biên giới Việt Nam - Lào - Campuchia hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển.

Sau khi thăm địa danh cột mốc biên giới ba nước Đông Dương và thị trấn Plây Cần - phố núi xinh đẹp của huyện biên giới Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, du khách có nhu cầu thăm hai nước bạn có thể làm thủ tục xuất cảnh tại Đồn biên phòng Việt Nam ở cửa khẩu quốc tế Bờ Y sang thăm tiếp cửa khẩu quốc tế Phu Cưa (tỉnh Attapư, Lào) hoặc thăm tỉnh Rattanakiri, Campuchia để khám phá bao điều kỳ thú khác.
Theo báo Datmui

Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2011

Một ngày trên núi Dinh

Nằm cách TP.HCM khoảng 90 km về phía đông, sát quốc lộ 51 thuộc xã Tân Hòa, huyện Tân Thành, Bà Rịa - Vũng Tàu, núi Dinh là một dãy núi hùng vĩ nằm sát bờ biển, chạy dài hình vòng cung theo hướng đông nam - tây bắc, độ cao trung bình 500m với tổng diện tích toàn khu vực gần 60km², được xem là ngọn núi cao và độc đáo nhất tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đỉnh cao nhất là núi Ông Trịnh 504m, phần còn lại thoải dần về hai phía. Đây là một quần thể núi non và cây xanh ngút ngàn với những am, chùa, cốc, miếu độc đáo nằm ven các con suối, nhưng ít ai có cơ hội chiêm ngưỡng vùng núi xinh đẹp và hùng vĩ này vì điều kiện du lịch ở đây còn rất hoang sơ theo nhiều nghĩa.

Không chỉ có biển, với những dãy núi trải dài khắp các bờ biển, Bà Rịa - Vũng Tàu còn là một điểm đến với những bạn trẻ muốn du lịch mạo hiểm. Và núi Dinh sẽ là một địa chỉ gần gũi để bạn có thể thử sức.

Núi Dinh buổi sáng thật đẹp, bình yên và vắng lặng, làn sương trên các đỉnh núi lặng lẽ rủ nhau bay về trời, chỉ còn sót lại vài mảng trắng nổi bật trong màu xanh của rừng.

Nắng mặt trời buổi sáng như dát vàng tạo một vẻ đẹp lung linh, huyền ảo trên các sườn núi. Lũ chim chóp mào thường ngày vẫn ồn ào náo nhiệt đang ríu rít gọi nhau thưởng thức chùm quả trên cây trường chín mọng. Đàn chim bồ chao ngoác mỏ kêu la inh ỏi cả một góc rừng khi phát hiện nhóm người đang hăm hở tiến bước, vượt lên từng độ cao.

Phía đối diện là dãy núi Ông Trịnh cao 504m so với mặt nước biển như đang thách thức. Từ đây có thể chiêm ngưỡng đỉnh núi biệt lập, cao ngất này của vùng đất với những thắng cảnh du lịch nổi tiếng Bà Rịa - Vũng Tàu. Buổi sáng tràn đầy sinh lực, với tình yêu thiên nhiên cháy bỏng, việc vượt qua đỉnh núi này không còn là cực hình mà là cuộc khám phá đầy thú vị.

Ở độ cao 350m so với mực nước biển, toàn cảnh núi Dinh nhìn từ trên cao là các dãy núi trùng điệp nhấp nhô trải dài như bất tận. Mùa này, những chùm muồng hoa đào khoe sắc rực rỡ trên những đám lá xanh biếc. Bước đi trong im lặng, đôi tai chỉ còn nghe tiếng lá rung xào xạc theo làn gió nhẹ và tiếng thở dốc của mọi người.

Bất chợt, sau tiếng “suỵt” ra hiệu của An, ai cũng bất ngờ khi nhìn thấy chú heo rừng đang mải mê kiếm ăn bữa sáng. Tôi vừa lia máy bấm được mấy cái chú đã vụt chạy rất nhanh vào rừng...

Vượt lên đỉnh núi ở độ cao hơn 500m, kết thúc cuộc hành trình vượt dốc, khuôn mặt mọi người đầy những giọt mồ hôi lăn dài. Nhưng phóng tầm mắt nhìn xa về phía biển, phong cảnh thành phố, làng mạc hiện ra như một bức tranh hoàn hảo khiến bao mệt mỏi như tan biến. Chiếc ống nhòm 52x được truyền tay nhau để "lấp đầy" những con mắt...

Giữa quang cảnh núi non hùng vĩ, trên vách đá dựng đứng và trơn trượt, những mảng hoa lan nhài tím rực rỡ khoe sắc. Trong một góc khuất khác, loài hoa lan chu đình vàng lặng lẽ kiêu hãnh với màu vàng tinh khiết nổi bật trong những mảng đá đen xù xì.
Bất ngờ hơn nữa khi bắt gặp những bông hoa lan trứng ốc trên một vách đá ẩm ướt phủ đầy rêu. Loài lan có củ nhỏ và vân giống hình ốc nằm ôm sát các kẽ đá ở các tảng đá mẹ rải rác ở độ cao 500m này mọc khá nhiều. Với hai chiếc lá dài 1 - 2cm rất dễ rụng nhằm tránh thoát nước vào mùa khô giúp chúng vượt qua mùa cực kỳ khô khắc nghiệt ở vùng núi này, và củ lan rất nhỏ này sẽ ẩn mình teo tóp trong các kẽ đá rất khó nhận ra bằng mắt thường chờ đợi mùa mưa năm sau.

Sau một buổi sáng thu hoạch được khá nhiều mẫu vật và những tấm hình ưng ý, bữa ăn nhanh chóng với mấy món ăn đơn giản và những tiếng tiếng cười rộn rã xua tan mệt mỏi. Chúng tôi ngả lưng ngắm nhìn bầu trời trong xanh không một gợn mây. Từng tia nắng như cố xuyên qua đám lá dày của khu rừng thường xanh còn sót lại...

Chiều xuống, vấn vương mãi chúng tôi mới sửa soạn xuống núi. Một chuyến khám phá và chiêm ngưỡng vẻ đẹp khác của địa danh đã ghi dấu vào lịch sử oai hùng dân tộc thật khó quên...

Theo Dulich Tuoitre

Khám phá Núi Dinh – Vũng Tàu

Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2011

Về chùa Nành...

Nhắc tới Ninh Hiệp, người ta thường nghĩ ngay tới khu chợ vải sầm uất nổi tiếng ngoại thành Hà Nội. Không nhiều người biết rằng đây chính là quê ngoại công chúa Ngọc Hân và tồn tại một ngôi chùa nổi tiếng - chùa Nành.

< Cổng ngũ môn.

Chùa Nành cùng với chùa Dâu, chùa Keo, chùa Đậu là bốn ngôi chùa thờ Tứ pháp lớn nhất ở miền Bắc. Chùa nằm tại thôn Phù Ninh (làng Nành) thuộc xã Ninh Hiệp, huyện Gia Lâm, cách trung tâm thành phố Hà Nội chừng 20 cây số. Đến đây, bạn thật sự cảm nhận được sự thanh tịnh, trầm mặc của chốn tu hành: mái ngói lợp phủ màu thời gian; những cây cột gỗ mộc mạc; những cánh cửa, chấn song gỗ tựa như trong những thước phim tư liệu cũ…



Được xây dựng từ thời Lý, tên gọi chính thống của chùa Nành là chùa Pháp Vân. Người dân trong vùng còn gọi bằng một cái tên dân dã hơn là chùa Cả bởi đây là chùa lớn nhất trong số ba ngôi chùa của Ninh Hiệp gồm chùa Pháp Vân, Khánh Ninh và Đại Bi.

< Thủy đình.

Trải qua nhiều lần trùng tu, song kiến trúc chùa Nành vẫn giữ được dáng vẻ kiến trúc thời Lê với rất nhiều pho tượng.

Mỗi pho tượng đều mang một dáng vẻ, một khuôn mặt riêng rất sinh động. Trong các ngôi chùa Tứ pháp, tượng các nữ thần được tạc với kích thước to lớn hơn rất nhiều so với các tượng Phật.

< Cổng phụ vào chùa.

Hệ thống chùa Tứ pháp là chứng tích cho sự kết hợp giữa Phật giáo với các tín ngưỡng dân gian có nguồn gốc nguyên thủy ở Việt Nam. Phía trước chùa có thủy đình, ngũ môn, tiền đường, tiếp đến là cầu, tam bảo, tả vu, hữu vu, nhà tổ và phía sau là điện Mẫu cùng khu phụ.
< Tiền đường chùa Pháp Vân.

Chúng tôi đến chùa vào một ngày nắng đẹp, bóng cây cổ thụ cùng mặt nước hồ xanh ngắt làm dịu đi cái nắng cho khách vãn du chùa. Tòa thủy đình tương truyền được bà Nguyên phi Nguyễn Thị Huyền - mẹ công chúa Ngọc Hân - cho chuyển từ chùa Đồng Mắn về dựng trước tòa tiền đường chùa Pháp Vân vào thế kỷ 18. Nếu đến chùa vào những ngày lễ hội (mồng 4 - mồng 6 tháng 2 âm lịch), bạn sẽ được xem những màn múa rối nước rất hấp dẫn tại đây.

< Nhà bia gian hữu tiền đường.

Cổng ngũ môn của chùa được xây hai tầng kiểu vòm cuốn bằng chất liệu đá xanh, là cổng chính vào chùa, thường mở trong những ngày lễ hội. Còn ngày thường, khách qua lại và người dân trong vùng sẽ đi qua lối cổng phụ.

Một trong những nét kiến trúc rất độc đáo, chỉ bắt gặp ở chùa Nành là tiền đường gồm bảy gian hai dĩ. Trên nóc tiền đường, sát về phía hai bên hồi được xây nổi hai góc mái nhỏ làm gác chuông và gác khánh. Mỗi góc gồm bốn mái với bốn đao cong vút tỏa ra bốn phía. Nằm giữa hai góc mái là đôi rồng chầu mặt nguyệt lớn, tạo cho tổng thể kiến trúc uy nghi, đường bệ mà vẫn gần gũi với đời thường.

< Hoa văn chạm trổ.

Từ tiền đường, đi qua nhà giải vũ hai bên tả hữu sẽ xuống điện Mẫu. Nữ thần mây (Pháp Vân) thờ ở chùa Nành nên còn được gọi là bà Nành. Trong chùa có tổng cộng 116 bức tượng, bao gồm tượng Phật, tượng Mẫu, tượng Hậu được tạo tác tỉ mỉ. Nhiều bức tượng mang niên đại nghệ thuật cuối thế kỷ 17, tiếp đến là những tượng của thế kỷ 18, 19.

Ở hành lang chùa có tượng 18 vị la hán. Trong số này có một bức tượng tạc từ đá tự nhiên. Nét riêng biệt này chỉ bắt gặp ở chùa Pháp Vân, thể hiện chất nghệ thuật truyền thống riêng của người Việt. Ngoài ra, trong chùa còn có hệ thống di vật rất phong phú về thể loại và chất liệu như bia đá, chuông đồng, thần phả, sắc phong của nhiều triều đại.

Sự phát triển của chợ Nành (chuyên bán các mặt hàng vải vóc, quần áo) đã làm thay đổi không gian chùa. Đường vào bị một số hộ dân chiếm dụng để bán hàng, cổng chính bị che khuất bởi rất nhiều lều bạt. Nếu nhìn từ bên ngoài, không để ý kỹ có thể không nhận ra khuôn viên chùa.

Khi chúng tôi đến, dù đã có tìm hiểu trước thông tin nhưng vẫn phải hỏi người dân địa phương mới tìm được lối vào chùa. Để ý kỹ phía bên trái có thể thấy tấm bia đề chữ Hạ mã (xuống ngựa, ý nói xuống xe) nằm ngay trong quán bán hàng ăn phía sau. Đó cũng chính là một lý do khiến chùa Nành tuy mang nhiều giá trị về lịch sử, tôn giáo và nghệ thuật nhưng vẫn chưa được nhiều người biết đến.

Chùa được người dân trong làng sửa sang lại vào năm 1976 và được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử năm 1989. Mái chùa rêu phong cùng những cột gỗ pha màu thời gian vẫn thầm lặng dõi theo dòng chảy của cuộc sống...

Theo TTO