Hiển thị các bài đăng có nhãn Khu bảo tồn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Khu bảo tồn. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 15 tháng 5, 2011

Bí mật thành đá lớn nhất Việt Nam

Một ngôi thành bằng đá xanh hùng vĩ vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt suốt 600 năm qua. Những người thợ thủ công đã làm thế nào để vận chuyển và đưa những khối đá hàng chục tấn lên cao? Làm thế nào giữa các tảng đá không cần chất kết dính mà ngôi thành vẫn vững vàng qua bao mưa nắng?

Thành Nhà Hồ (Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) vốn là kinh đô của nhà Hồ, thành còn được gọi là Tây Đô để phân biệt với Đông Đô (Thăng Long - Hà Nội). Đây là một công trình kiến trúc đồ sộ, một hoàng thành rộng lớn vào bậc nhất Việt Nam, có người đã ví von đây là “Kim tự tháp” đá của Việt Nam.

Công trình hùng vĩ này do Hồ Quý Ly - lúc bấy giờ là tể tướng cho xây dựng vào năm 1397. Sau khi xây xong thành, Hồ Quý Ly đã dời triều từ Thăng Long về Tây Ðô và nhà Hồ đã tồn tại được 7 năm (1400-1406).

Thành có bình đồ kiến trúc hơi vuông với hai mặt nam - bắc dài hơn 900 m, hai mặt đông - tây dài hơn 700 m, độ cao trung bình 7 - 8 m, có nơi như ở cửa nam cao tới 10 m. Theo sử sách ghi lại thì trong thành có điện Hoàng Nguyên, cung Diên thọ, Đông cung, núi Thọ kỳ, Dục tượng ... rất nguy nga, tráng lệ chẳng khác gì kinh đô Thăng Long.

Điều đặc biệt thú vị là toàn bộ tường thành và bốn cổng chính được xây dựng bằng những phiến đá xanh, đục đẽo tinh xảo, vuông vức, xếp chồng khít lên nhau với tổng khối lượng đá được sử dụng xây thành khoảng 20.000 m³ và gần 100.000 m³ đất được đào đắp.
  Your Ad Here

Các phiến đá có kích thước rất lớn, chiều dài trung bình 1,5m, cá biệt có phiến dài tới 5m, rộng 1,5m và nặng tới 15 - 20 tấn.

Các cổng thành được xây dựng theo kiến trúc hình vòm. Những phiến đá trên vòm cửa đục đẽo hình múi bưởi, xếp khít lên nhau. Cổng tiền (phía Nam) là cổng chính, có ba cửa. Cửa giữa rộng và cao gần 6m, hai cửa bên rộng 5,4 m, cao 5,3 m. Ba cổng còn lại chỉ có một cửa.

Điều đáng ngạc nhiên là một công trình kiến trúc đồ sộ, vững chắc như vậy mà theo tương truyền của nhân dân địa phương, thành chỉ được xây trong vòng ba tháng. Cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều giả thuyết và bí mật xung quanh việc xây thành.

Đầu thế kỷ 20, nhà nghiên cứu người Pháp L.Bezacier, chuyên nghiên cứu về văn hóa Đông Dương, đã nhận xét về thành nhà Hồ như sau: “Thành cổ này là một mẫu mực độc nhất về việc sử dụng những khối đá vôi to lớn, được đẽo gọt và ghép một cách rất tài tình...”.

Trải qua hơn 6 thế kỷ cho đến nay toà thành còn lại cửa phía Nam với 3 cổng vòm cuốn bằng đá xanh. Khung tường thành còn lại là những bức tường bằng đất.

Từ thành phố Thanh Hoá, theo quốc lộ 45 ngược lên phía bắc, qua các huyện Đông Sơn, Thiệu Hoá, đến huyện lỵ Vĩnh Lộc, ngược con đường Thiên Lý xưa kia độ 2 km là chúng ta đã đến Thành Tây Đô hay còn gọi là Thành An Tôn, Thành Tây Giai, thành Nhà Hồ thuộc địa phận hai xã Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá ngày nay.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Vietnamnet, Samthanhgroup - ảnh internet

Thứ Sáu, 13 tháng 5, 2011

Khám phá những cánh rừng nguyên sinh trong ngày hè

Những cánh rừng nguyên sinh âm u huyền bí và cũng không kém phần nên thơ lãng mạn là điểm lý tưởng cho chuyến du lịch mùa hè của bạn.

Bên cạnh những bãi biển xinh đẹp đã là lựa chọn quen thuộc của mọi gia đình, bạn hãy thử đến và chiêm ngưỡng những cánh rừng già tuyệt đẹp của nước ta. Ở nơi đây, bạn sẽ được tận hưởng không gian hùng vĩ và nên thơ, được thưởng thức những loại đặc sản mà chỉ vùng rừng núi mới có. Bên cạnh những thảm thực vật và động vật phong phú, du khách còn có thể tham gia tour du lịch với nhiều điều độc đáo ở những khu rừng này.

Dưới đây, Chuyên mục Du lịch sẽ giới thiệu những khu rừng nổi tiếng của nước ta để bạn có thêm sự lựa chọn cho kì nghỉ hè lý thú nhé!

Rừng Tà Hoàng

Rừng Tà Hoàng rộng đến 20 ngàn héc ta ở xã Phan Dũng, tỉnh Bình Thuận. Đây là địa điểm thu hút rất nhiều du khách bởi vẻ đẹp vừa hùng vĩ nhưng cũng không kém phần nên thơ.

Tà Hoàng là khu rừng còn tương đối nguyên vẹn và được bảo vệ khá tốt, nơi đây còn khá nhiều những khu rừng gỗ quý như: lim, sao, căm xe, hương, trắc, gõ, giáng hương. Cắt ngang khu rừng là những dòng suối nước trong vắt, xen kẽ ghềnh đá, cổ thụ, cây bụi hay hoa rừng… như một bức tranh thủy mặc. Đặc biệt, những ngôi nhà sàn và nét văn hóa của đồng bào dân tộc Rắc-Lây vẫn còn được lưu giữ tại nơi này.

Rừng Tà Hoàng được ví như một thiên đường cắm trại dã ngoại khá thú vị đối với du khách bốn phương.
  Your Ad Here

Rừng U Minh Thượng

Sông Trẹm chia U Minh thành hai vùng thượng và hạ. U Minh Hạ thuộc tỉnh Cà Mau, U Minh Thượng thuộc tỉnh Kiên Giang. Rừng U Minh Thượng được công nhận là vườn quốc gia vào năm 2002, nó được xếp vào hạng độc đáo và quý hiểm trên thế giới.

Rừng U Minh Thượng đang được đầu tư phục vụ cho nghiên cứu bảo tồn các nguồn giống, gen sinh học quý hiếm và phát triển du lịch sinh thái mạnh mẽ. Đến U Minh Thượng, du khách sẽ được tận hưởng không khí trong lành cùng với không gian khoáng đãng, tha hồ nhìn ngắm chim muông, thú rừng, và các loài động thực vật. Nhiều địa chỉ để các bạn tham quan như mảng chim, mảng dơi quạ, tràm nguyên sinh, quần thể heo rừng, rái cá, kỳ đà, và đặc biệt là khu giải trí câu cá Hồ Hoa Mai...

Vườn quốc gia Pù Mát 

Đây là một khu rừng đặc dụng ở phía tây tỉnh Nghệ An. Nó là kho tàng các nguồn gen hoang dã, quý hiếm với thảm thực vật phong phú với 20 loài trong sách đỏ quốc tế. Các loài thực vật quý hiếm phải kể đến như pơ-mu, sa-mu, thổ phục linh, ba kích, hoài sơn, trầm hương, mun, chò, sao... Động vật nổi bật là voi, hổ, báo gấm, sơn dương, voọc, vượn đen, gấu chó, chim quý như trĩ sao, gà lôi, cao cát, gà tiêu...

Tại rừng quốc gia Pù Mát, du khách có dịp thưởng ngoạn nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng. Bạn chớ bỏ qua thác Khe Kèm, hang Ốc, bãi Mỏ Vịt, hoặc tản bộ trong rừng săng lẻ, rừng cây lùn… Du khách đến đây rất thích thú với hương vị độc đáo của “Cơm Kẻ Qua, cá sông Giăng” vừa lạ vừa ngon.

Rừng Hoàng Liên Sơn

Vườn quốc gia Hoàng Liên thuộc tỉnh Lào Cai là cánh rừng nguyên sinh với thảm thực vật và một hệ động vật rừng phong phú, đa dạng.

Thực vật nổi tiếng được ghi vào sách đỏ như bách xanh, thiết sam, thông tre, thông đỏ, đinh tùng, dẻ tùng tống quán sủ, bồ đề, đỗ quyên. Hàng trăm thảo dược như: quy, thục, đỗ trọng, hoàng liên chân chim, kim giao... Ngoài ra còn có loài nấm cổ linh chi, nứa Sa Pa. Hệ động vật rừng phổ biến là: hồng hoàng, cheo cheo, voọc bạc má, đại bàng đốm to, trĩ mào đỏ, chim hét mỏ vàng... và loài ếch gai rất quý hiếm.

Đến đây, du khách sẽ ấn tượng ấn tượng với cảm giác được ngủ lại qua đêm trên lưng chừng núi để hòa mình vào thiên nhiên hùng vĩ của dãy Hoàng Liên Sơn, nghe tiếng suối chảy róc rách, tiếng thác chảy ào ào... Bên cạnh đó, bạn cũng có thể tham gia chương trình du lịch bản làng: đến và nghỉ tại nhà của người dân tộc, cùng họ làm những công việc nhà, tập trung để giao lưu văn hóa - văn nghệ, tham các môn thể thao truyền thống như: đẩy gậy, bắn cung, kéo co.

Du lịch, GO! - Theo Afamily

Thứ Ba, 10 tháng 5, 2011

Di tích hang Đá Đen

Hang Đá Đen, thôn 2 Thống Nhất, xã Yên Phú (Hàm Yên) nằm trong dãy núi đá vôi gồm 5 quả núi liên tiếp chạy theo hướng Đông Nam dài khoảng 500-700 m, hình thành cách đây ít nhất hàng chục triệu năm. Hang cách Quốc lộ 2 khoảng 300 m về phía Đông, nằm đối diện với Động Tiên. Bề mặt hang có diện tích khoảng hơn 20 m2, trần hang thấp. Hang bị trầm tích bao phủ lấp kín cửa hang.

Tháng 9-2005, Viện khảo cổ học và Bảo tàng tỉnh đã tiến hành khai quật di tích hang Đá Đen. Đoàn khảo cổ học và Bảo tàng tỉnh đã tiến hành chia tọa độ nền và vách hang, đục một số trầm tích trên vách, toàn bộ khối trầm tích được đánh số theo từng ô nhỏ để tìm hiểu mối liên hệ giữa các di vật, phá vỡ những khối trầm tích đã bị người dân đem ra cửa hang để thu thập các hoá thạch động vật.

Tại đây, các nhà khảo cổ học đã phát hiện được nhiều hiện vật xương răng hoá thạch của các loài động vật: Răng homoSapiens, răng đười ươi, răng khỉ, xương tai động vật, xương răng nhím, xương răng động vật ăn thịt, răng voi, răng trâu bò, răng hươu nai, xương răng lợn, răng tê giác, răng kỳ đà.

Trên cơ sở các xương răng tìm thấy, Viện khảo cổ học đã chia chúng làm 6 bộ: Bộ linh trưởng (họ người, họ vượn, họ đười ươi), bộ guốc ngón lẻ (họ tê giác), bộ guốc ngón chẵn (họ lợn, họ hươu, họ trâu bò), bộ có vòi (họ voi), bộ ăn thịt (họ gấu), bộ gặm nhấm (họ nhím, dúi, chuột). Ngoài xương răng (cơ sở quan trọng để phân loại họ), các nhà khảo cổ học còn dựa trên kết cấu răng (kết cấu mảng hay khối), dựa trên mấu trên mặt răng và dựa trên hình dáng răng.

Sự tồn tại của các loại xương răng hoá thạch trên đã chứng tỏ một hệ sinh thái đa dạng và đông đúc vào thời kỳ Cánh Tân. Để tìm hiểu tính chất, niên đại các hoá thạch Pleistocene muộn hơn ở hang Đá Đen, các nhà khảo cổ học đã so sánh quần thể động vật hang Đá Đen với một số quần thể động vật ở Bắc Việt Nam và Đông Nam Á.
  Your Ad Here

Cụ thể các nhà khoa học đã dùng phương pháp so sánh giữa các hoá thạch trong Đá Đen với các hoá thạch được sưu tập tại hang Hùm, Khe Thắm (Yên Bái). Kết quả đối sánh cho thấy những hoá thạch mà các nhà khoa học tìm thấy ở quần thể hang Đá Đen có hình thái và kích thước hoàn toàn tương đồng với nhau. Từ đó có thể đoán định rằng, quần thể động vật ở hang Đá Đen có niên đại tương đương với quần thể động vật ở trong khu vực Đông Nam Á.

Việc phát hiện những hoá thạch xương răng động vật và thực vật tại hang Đá Đen là cơ sở để nắm rõ hơn diễn biến, sự thay đổi vận động của khí hậu, thời tiết dẫn đến những biến đổi lớn của môi trường trái đất cách đây hàng chục vạn năm. Đặc biệt trong số xương răng hoá thạch tại đây đã phát hiện được một số loài răng hoá thạch Homosapiens. Đây là giống người khôn ngoan đã hoàn thiện trong quá trình tiến hoá của loài người, là giống gần nhất với người hiện đại, chứng minh thêm nguồn gốc của loài người trên nước ta.

Di tích hang Đá Đen là di tích khảo cổ học thuộc loại hình di chỉ cổ sinh học có niên đại cách ngày nay khoảng 12-15 vạn năm, thuộc giai đoạn hậu kỳ Cánh Tân. Hiện nay, hang Đá Đen đã được đánh dấu “Địa điểm khai quật khảo cổ học hang Đá Đen năm 2005” trên vách đá. Bảo tàng tỉnh đã lập hồ sơ khoa học di tích, khoanh vùng bảo vệ khu di tích, làm cơ sở pháp lý cho di tích. Qua đó gìn giữ nguyên hiện trạng của hang nhằm phục vụ nghiên cứu khoa học cũng như phát triển du lịch. Để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu lịch sử, tham quan du lịch, Bảo tàng tỉnh đã đề nghị UBND tỉnh trình Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch xem xét, quyết định xếp hạng di tích hang Đá Đen là di tích cấp quốc gia.

Du lịch, GO! - Nguồn từ TQDT, trang Thông tin ĐT huyện Hàm Yên

Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2011

Lũng Lô - huyền thoại thơ, nhạc, họa Tây Bắc

Có một con đèo gắn với thơ ca và nhạc họa, cùng với những kỷ niệm không thể nào quên về chiến dịch Điện Biên lịch sử. Đó là đèo Lũng Lô, nằm ở ranh giới giữa tỉnh Yên Bái và tỉnh Sơn La. Từ một nơi vô danh "đèo heo hút gió", từ câu thơ trong bài thơ nổi tiếng của Tố Hữu: "Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ - Đèo Lũng Lô anh hò chị hát" và một số tác phẩm nghệ thuật mà con đèo này đã được biết đến nhiều. Lũng Lô chứa đựng huyền thoại về những đoàn quân ra mặt trận, những đoàn dân công hỏa tuyến, ngày nay là một điểm du lịch về nguồn và khám phá đầy hấp dẫn trong khu vực Tây Bắc.

Đèo Lũng Lô nằm trên Quốc lộ 37 (đường 379 cũ, nối Quốc lộ 32 với Quốc lộ 32B) tại ranh giới hai huyện Văn Chấn (Yên Bái) và Phù Yên (Sơn La), nằm về phía Đông Bắc thị trấn Phù Yên, cách 33 km.

Đèo dài 15 km, từ km 349 đến km 364, độ dốc 10%. Trong kháng chiến chống Pháp, một trong những con đường tiếp vận vũ khí đạn dược và lương thực cho chiến dịch Điện Biên Phủ (13/3 - 7/5/1954) qua đèo này.

Từ thành phố Yên Bái, theo đường đi Văn Chấn - Nghĩa Lộ, tới ngã ba Vực Tuần thì rẽ trái, sẽ tới xã Thượng Bằng La, đây là vùng cư trú của người Tày miền Tây Yên Bái. Thượng Bằng La cũng là xã tiếp giáp với huyện Phù Yên (Sơn La). Xưa đi trên tuyến đường này, xe khách từ bến xe Yên Bái phải bò chậm rì cả ngày mới tới Thượng Bằng La, bởi con đường từ Ba Khe vào toàn đất đá. Nay đường đã được trải nhựa, dễ đi hơn nhiều.

Bạn muốn đi từ Hà Nội lên thăm đèo Lũng Lô để trải nghiệm cảm giác khám phá Tây Bắc, lâng lâng trong không gian trong lành của miền núi, thì có thể theo lộ trình như sau: Từ Hà Nội đi Sơn Tây theo Quốc lộ 32B.

Dịp trước có cơ hội đi xe máy từ Hà Nội về Lào Cai, chúng tôi quyết định đi theo tuyến này để có thể vượt đèo Lũng Lô, về nghỉ tại Yên Bái rồi mới về Lào Cai. Đi đường Láng - Hòa Lạc gặp QL21A ở khoảng km5. Đường đã được làm rất tốt, trải at-fan phẳng lì. Đến cầu Trung Hà là 12h trưa.

Cầu Trung Hà bắc qua con sông Đà đang chảy ngược lên phía bắc để hòa vào sông Hồng ở Tam Nông. Con sông Đà hung dữ trong ký sự của cụ Nguyễn Tuân về đến đây chỉ còn là một dòng chảy trong xanh, hiền hòa và êm ả. Chắc là cái dữ dội đã gửi cả lại miền núi cao rừng thẳm rồi. Tiếp tục đi, tới thị trấn Hưng Hóa rồi qua ngã tư Cổ Tiết.

Từ Cổ Tiết đến thị trấn huyện Thanh Sơn chỉ vài km, đường khá đẹp, nhưng nhiều dốc cao. Sau bữa trưa, chúng tôi tiếp tục lên đường tới Thu Cúc, địa danh được nhắc đến trên cột mốc của Quốc lộ 32 chỉ là một thị tứ nhỏ, nhưng lại là nơi giao nhau giữa đường từ Phù Yên - Sơn La (QL32B) và đường từ Văn Chấn - Yên Bái (QL32) sang nên khá sôi động với các quán ăn và nhà nghỉ.

Điểm đặc biệt là Thu Cúc có nhiều núi đá, không cao lắm nhưng chính vì thế tạo nên khung cảnh khá ấn tượng khi ở đây người ta làm nhà ở ngay dưới chân núi đá. Chính từ Thu Cúc này, có 2 đường đi sang Văn Chấn của tỉnh Yên Bái, một đường vượt đèo Lũng Lô, còn một đường qua đèo Khế, giáp giới giữa Phú Thọ và Yên Bái (giống tên một con đèo bên Thái Nguyên - Tuyên Quang).

< Những hình ảnh sạt lở mất hẳn đường tại đèo Lũng Lô - phía Phù Yên Sơn La.

Người dân cho hay, đường đèo Lũng Lô đã bị tàn phá nặng nề bởi cơn bão số 7 hồi năm 2008, nếu đi xe máy thì nhiều đoạn phải cài số 1 mà dắt, còn qua đèo Khế thì thuận tiện hơn. Nhưng chúng tôi quyết tâm vượt đèo Lũng Lô bởi biết rằng chẳng mấy khi có cơ hội được tham quan con đèo này, cho dù có phải dắt xe cài số 1. Thời điểm đó, đèo Lũng Lô bị nước lũ cuốn thẳng từ đỉnh đèo xuống và con đèo lịch sử bị cắt thành nhiều đoạn. Tuy nhiên, chúng tôi đã vượt đèo lên tới Thượng Bằng La. Thượng Bằng La có vị trí quan trọng, án ngữ hai con đường huyết mạch là Quốc lộ 13A (nay là đường 37A) về hướng Tây Bắc Tổ quốc và Quốc lộ 32 chạy qua phía đông xã.

< Bộ đội công binh Trung đoàn 151 phá đá trên đèo Lũng Lô, mở đường vào chiến dịch Điện Biên Phủ.

Với địa thế có vị trí chiến lược quan trọng nên trong kháng chiến chống Pháp, nhiều đơn vị bộ đội chủ lực, dân công hỏa tuyến theo Quốc lộ 13A qua Thượng Bằng La tiến vào giải phóng Tây Bắc, làm nên "chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu". Trong khí thế hào hùng ấy, năm 1953, nhạc sĩ Đỗ Nhuận, trong đội hình đại đội súng cối 267 thuộc Đoàn B08 hành quân từ Đại Từ lên miền Tây Bắc. Khi tới Thượng Bằng La, đại đội được lệnh dừng chân. Cấp trên phổ biến nhiệm vụ cho đơn vị là tham gia "Chiến dịch Trần Đình".

Trần Đình là địa danh nào trên bản đồ Tổ quốc? Không ai biết. Có anh đoán già, đoán non: "Có lẽ ta hành quân nghi binh, qua Nghĩa Lộ rồi lại quặt về đồng bằng", nhiều ý kiến đồng tình, nhiều ý kiến dự đoán khác, sôi nổi hẳn lên. Bỗng trong đoàn hành quân có một chiến sĩ cất giọng nói to: "Thôi, dẹp thắc mắc nhé! Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi". Nhạc sĩ Đỗ Nhuận chộp lấy cuốn sổ tay và cẩn thận ghi nguyên câu nói của người chiến sĩ ấy. Bài hát được ra đời ngay trong bước hành quân lên Tây Bắc. "Đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi", bài hát thể hiện tinh thần lạc quan cách mạng, ý chí quyết thắng của lớp lớp Bộ đội Cụ Hồ.

< Thác nước trên đèo Lũng Lô.

Lũng Lô cũng gắn với kỷ niệm của một họa sĩ nổi tiếng đã từng bán vàng để lấy tiền nuôi học sinh, đó là họa sĩ Tô Ngọc Vân. Bức tranh "Qua đèo Lũng Lô" chính là bức họa cuối cùng của ông trước khi về cõi vĩnh hằng. Chuyện rằng, những năm tháng kháng chiến, họa sĩ Tô Ngọc Vân luôn tranh thủ thời gian để đi sáng tác. Họa sĩ đã hy sinh trong một trận ném bom của địch vào ngày 17/6/1954 tại chân đèo Lũng Lô. Bức họa cuối cùng của ông - "Qua đèo Lũng Lô" đã khép lại sự nghiệp hội họa đang đà phát triển, trong sự tiếc nuối của bao người mến mộ tài năng Tô Ngọc Vân - họa sĩ đầu đàn của nền mỹ thuật Việt Nam.

Ngày nay, nếu xuất phát từ thành phố Yên Bái đi tham quan đèo Lũng Lô, bạn chỉ mất có một ngày vừa đi vừa về và có một bữa trưa thú vị ở Thượng Bằng La hoặc Mường Cơi với những món ẩm thực đặc sản. Tới đỉnh đèo lộng gió, bạn sẽ thu vào tầm mắt những thung lũng xanh tươi, những trang trại chăn nuôi đầy bò, dê của đồng bào quanh vùng Thượng Bằng La (Văn Chấn) và Mường Cơi (Phù Yên).

Nao nao nhớ những bước chân hào hùng một thuở, phong cảnh và lịch sử con đèo đã đi vào huyền thoại bằng bài hát "Hành quân xa", vào bài thơ "Hoan hô chiến sĩ Điện Biên", vào bức tranh "Qua đèo Lũng Lô"… làm nên huyền thoại bất tử. Lũng Lô xứng đáng là một địa chỉ du lịch về nguồn và khám phá trên vùng đất Tây Bắc đầy vẻ đẹp của tự nhiên và con người.
Đèo Lũng Lô được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia hôm 7/5, nhân kỷ niệm 57 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2011).

Du lịch, GO! - Nguồn từ báo Lào Cai, ảnh Ttvnol + tư liệu internet

Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2011

Ngoằn ngoèo đổ đèo leo dốc giữa Hà Nội...

Với diện tích hơn 11.460ha, nằm trên địa phận huyện Ba Vì (Hà Nội), Vườn Quốc gia Ba Vì là địa điểm không thể bỏ qua đối với những du khách ưa khám phá, mạo hiểm.

Từ trung tâm Hà Nội đi theo hướng Tây khoảng 65km, nhìn về phía tay trái trong làn mây trắng mỏng thấy 3 đỉnh núi - Ba Vì mờ ảo xuất hiện và cũng là bắt đầu bước vào không gian lung linh huyền ảo của Vuờn quốc gia Ba Vì.

Đến đây, du khách được tận hưởng cái hương vị lành lạnh của núi rừng, cây cối, chim hót, suối reo hai bên đường. Đứng ở trên đỉnh núi, du khách có thể thả hồn ngắm mây trời, núi rừng, thung lũng, sông, hồ hiện ra phía dưới xen kẽ trong những dải mây bạc. Chắc chắn, điều này sẽ khiến tâm hồn du khách nào cũng phải ngất ngây.

Buổi sáng, không khí trong lành mát dịu, tạo ra cảm giác sảng khoái cho du khách. Theo lối mòn từ cổng đi vào dẫn lối du khách vào trong rừng thông vi vút, rừng tùng rộng lớn hay đứng nhìn sương sa xuống hồ trong thung lũng. Nếu là người yêu thiên nhiên du khách sẽ đến với khu nuôi bảo tồn động vật và thăm khu vườn dược liệu để chiêm ngưỡng những loại cây quý hiếm.

Đặc biệt vào những ngày quang mây nắng đẹp, khoảng ba, bốn giờ chiều, khi mặt trời chênh chếch hướng Tây, đứng ở đây có thể nhìn thấy rõ toàn cảnh thủ đô, trong đó, nổi bật những khối nhà chung cư hiện đại Linh Đàm, Nhân Chính đến hàng loạt cao ốc ở trung tâm.

Với những người có thú “điền dã”, Vườn Quốc gia Ba Vì được coi là một địa điểm lý tưởng. Không bị tác động nhiều bởi bàn tay của con người, Vườn Quốc gia Ba Vì mang trong mình vẻ đẹp hoang sơ và lôi cuốn với màu xanh ngát của núi rừng, cùng những dòng suối nhỏ trong vắt chảy ngang lối đi qua thảm động thực vật phong phú.

Đỉnh Vua, đỉnh Tản Viên, đỉnh Ngọc Hoa - 3 đỉnh núi cao nhất thuộc dãy Ba Vì mang nhiều huyền thoại của thời lập đất, gắt liền với truyền thuyết “Sơn Tinh- Thủy Tinh”. Vườn quốc gia Ba Vì ôm trọn 3 đỉnh núi. Đây là thắng cảnh thần tiên, một không gian đầy huyền tích xưa và nay đan xen đầy thú vị.

Đường vào khu Vườn quốc gia Ba Vì thật thơ mộng, một bên là những cây cổ thụ rêu phủ cổ kính, một bên là không gian thoáng đãng với bầu trời xanh biếc và những làn mây vần vũ quanh đỉnh núi xám xa xa.
Những cung đường uốn lượn, dốc đèo cheo leo tưởng chừng là cảnh tượng chỉ có ở miền núi xa xôi, không phải ai cũng đủ điều kiện để khám phá, vậy mà ở Hà Nội lại có một nơi như thế - Vườn quốc gia Ba Vì.

Ở độ cao hơn 1.000m, Vườn quốc gia Ba Vì với đồi núi bao la đan xen giữa thung lũng hiền hòa là một trải nghiệm lạ giữa Hà Thành đất chật người đông. Thảm thực vật phong phú, không gian sống động bởi suối, mây, chim chóc và đền chùa tĩnh mịch khiến Ba Vì trở thành điểm dã ngoại lý tưởng cho ngày nghỉ cuối tuần.

Không những vậy, điểm đến này còn thỏa mãn “máu phiêu lưu” của rất nhiều bạn trẻ. Từng con dốc chênh vênh, từng đoạn đường đèo uốn lượn nhưng khá an toàn với biển báo và gương cầu luôn sẵn sàng chờ đợi bạn chinh phục. Bạn còn được thỏa thú vui leo núi thăm đền Thượng, đền thờ Bác Hồ, thưởng thức bầu không khí trong lành, mát lạnh ngay cả giữa trưa hè oi bức.

Giữa bốn bề cây cỏ, bạn còn được trải nghiệm giây phút thư giãn bên dòng suối Hai hiền hòa cùng các suối nhỏ bên lưng chừng đồi núi. Vườn quốc gia Ba Vì còn có nhiều điểm dừng chân thú vị như nhà kính trồng cây xương rồng, nhà thờ đổ - nơi lý tưởng để thực hiện các bộ ảnh kỳ ảo, liêu trai. Hướng dẫn du lịch


Buổi sáng mùa hè, không khí trong lành mát dịu, tạo cảm giác khoan khoái cho mỗi ai đặt chân đến đây. Theo lối mòn từ cổng đi vào là rừng thông vi vút và rừng tùng rộng lớn. Đứng nhìn sương sa xuống hồ nước mờ ảo, mỗi người có một cảm giác riêng.

Những ngày trời quang mây tạnh, nắng đẹp, khi mặt trời chênh chếch chiếu từ hướng Tây, đứng trên đỉnh núi Ba Vì có thể nhìn thấy rõ toàn cảnh Thủ đô Hà Nội yêu dấu, mà nổi bật là những khối nhà chung cư hiện đại, những cao ốc ở trung tâm thành phố.

Màn đêm buông xuống, Vườn Quốc gia Ba Vì như chuyển mùa rõ rệt, toàn một màu đen bao phủ. Thay vào tiếng chim hót líu lo của mỗi sớm bình minh là tiếng côn trùng kêu rả rích trong đêm, bất chợt là tiếng vượn hú và tiếng động của những loài thú đi ăn đêm đầy chất hoang dã...

Đến Rừng Quốc Gia Ba Vì, khi kết thúc chuyến đi bạn cũng đừng quên thưởng thức những đặc sản như: rượu sữa ong chúa, bánh chè lam, bánh sữa, nước trà đắng hoặc mua chai phấn hoa và mật ong rừng về làm quà.

Du lịch, GO! - Tổng hợp từ Congdulich, DatViet

Thứ Tư, 4 tháng 5, 2011

Leo núi Chúa Em

Vườn quốc gia Núi Chúa (Ninh Thuận) thuộc hệ thống rừng đặc dụng quốc gia, được phân bố trên phức hệ núi sát biển tạo nên các cảnh rừng tự nhiên, các đồi núi, vùng ven biển... của vùng duyên hải Nam Trung bộ. 


Có diện tích tự nhiên 29.865ha, vườn là nơi bảo tồn sự đa dạng sinh học đặc trưng của hệ sinh thái động vật rừng khô hạn và khí hậu nhiệt đới ẩm.

^ Ngã ba đường, bên trái lên núi Chúa Anh, bên phải lên núi Chúa Em.

Chuyến leo núi Chúa Em đã được nhóm chúng tôi lên kế hoạch từ hơn một tháng và thống nhất chuyến đi gói gọn trong hai ngày nghỉ cuối tuần. Thông tin từ vườn quốc gia Núi Chúa (Ninh Thuận): ban ngày rất nóng, nếu trời mưa ban đêm rất lạnh...

< Xuống núi trong cơn mưa, một số thành viên chụp được rất nhiều “ếch”.

Ngủ một giấc trên chuyến xe giường nằm, chúng tôi có mặt ở TP Phan Rang - Tháp Chàm lúc 5g sáng thứ bảy. Đúng 9g, khởi hành từ vịnh Vĩnh Hy chúng tôi đi xuyên qua rẫy cây ăn trái của đồng bào dân tộc Raglay ở thôn Cầu Gãy (xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải). Sau một giờ rưỡi leo dốc, mọi người nghỉ chân tại một cao điểm để khoe nhau những bức ảnh toàn cảnh vịnh Vĩnh Hy tuyệt đẹp vừa chụp được.
  Your Ad Here

Bữa cơm trưa ven suối vừa xong, chúng tôi bắt đầu leo lên những con dốc 30-450. Thở phì phò, cả nhóm lên được vài mét lại dừng. Từ độ cao 600m lên đến đỉnh là đoạn khó khăn nhất. Nắng nóng cộng với balô (7-10kg) nặng trĩu khiến bước chân càng lúc càng chậm chạp hơn. Do đường lên núi Chúa Em ít người đi và không có lối mòn nên những người dẫn đường đôi khi phải quay lại để định hướng cho đúng.

< Bếp lửa trong đêm mưa lạnh thấu xương.

Quãng quá trưa thì mây mù xuất hiện, từ từ bao trùm từng người một. Càng lên cao gió càng lớn như muốn quật ngã những ai yếu sức. Người đi sau bám lấy người đi trước, nhích dần từng bước. 15g, người dẫn đường thông báo đã đến khu vực đỉnh núi - một khoảng trống có độ dốc khoảng 35 độ - và nếu trời tốt có thể nhìn rõ biển Bình Tiên (cách đó 5km) cũng như toàn cảnh núi Chúa.

< Cảnh đẹp lạ kỳ: thân cây tách đôi bên con suối Vẹn.

Nhưng chúng tôi chẳng thấy gì ngoài sương mù dày đặc và gió giật từng cơn. Mở GPS ra bắt sóng vệ tinh, tôi đo được độ cao nơi mình đứng: 960m so với mặt biển, cách đỉnh núi Chúa Anh (cao 1.039m) về hướng tây nam 4,4km. Mưa bắt đầu rơi, chúng tôi vội vàng lách những bụi mây, xuyên rừng trúc xuống núi để kịp đến điểm tập kết.

Đường xuống trơn trượt, nhiều người “chụp ếch” liên tục. Đến nơi đã 17g, mọi người bắt tay dựng trại trước khi trời tối hẳn. Màn đêm buông xuống rất nhanh giữa tiếng mưa rơi không ngớt. Chuyện cười, chuyện đời, những bài hát đủ thể loại được hâm nóng hơn lên bên bếp lửa - nơi nấu nướng, ăn uống, sưởi ấm, hong khô... Mưa và gió lạnh thổi suốt đêm bên những giấc ngủ chập chờn chờ trời sáng.

442 Chinh phục núi Chúa
Sa mạc và rừng thẳm ở Vườn quốc gia Núi Chúa

< Niềm vui khi lên đến đỉnh Chúa Em.


Trời thật bình yên sau cơn mưa đêm qua. Ánh dương xuyên qua những tán cây đánh thức mọi người. Sau khi dùng điểm tâm, chúng tôi thu xếp và xuống núi bằng con đường ven suối Nhỏ (còn gọi là suối Vẹn) để đến trảng cỏ tranh.

Theo nhân viên phòng bảo tồn Phạm Anh Dũng, khu vực này phân chia “trường xanh hơi ẩm” giữa vùng ôn lạnh và rừng nhiệt đới - cũng là đặc trưng của vườn quốc gia Núi Chúa. Xuống đến độ cao 530m, chúng tôi thấy ngọn Chúa Em sừng sững sau lưng. Bạn Đăng Khoa, từng chinh phục đỉnh Chúa Anh, cho biết leo núi Chúa Em hấp dẫn hơn vì đường đi còn hoang sơ, có độ dốc lớn và nhiều cảnh đẹp.

Du lịch, GO! - Theo Dulich Tuoitre

Quyến rũ vườn quốc gia Chư Yang Sin (Đắk Lắk)

Nằm trên địa phận hai huyện Lak và Krông Bông của tỉnh Đắk Lắk, cách thành phố Buôn Ma Thuột 60 km về hướng đông, Vườn quốc gia Chư Yang Sin được xem là nơi tham quan, du lịch sinh thái thật quyến rũ chẳng thua kém gì Vườn quốc gia York Đôn. Đây là vùng núi cao, nơi tập trung đầu nguồn nhiều sông suối lớn nhỏ trên địa bàn Đắk Lắk.

Phía bắc Vườn quốc gia là suối Ea K’ Tuor chảy theo hướng bắc nam đổ vào sông Krông Knô. Sông Krông Knô đổ nước vào sông Srêpok rồi chảy sang nước bạn Campuchia. Trung tâm của Vườn quốc gia là núi Chư Yang Sin cao 2.442m, là đỉnh cao nhất của hệ thống núi non nam Trường Sơn.

Vườn quốc gia Chư Yang Sin được thành lập vào tháng 7 năm 2002, có diện tích tự nhiên là 58.947 ha, với nhiệm vụ chính là bảo vệ các hệ sinh thái rừng, bảo tồn động thực vật quí hiếm. Tại Vườn quốc gia, bước đầu đã phát hiện được 867 loài thực vật.

Rừng ở đai cao dưới 800m là rừng nửa rụng lá với các loài cây tiêu biểu là bằng lăng ổi, chiêu liêu gân đen. Rừng thường xanh ở đai thấp, có các loài ưu thế như sao đen, dầu con rái, dầu con quay. Rừng thường xanh ở đai cao trên 800m có các loại dẻ, họ long não, các loài cây lá kim như thông Đà Lạt, thông hai lá dẹt, thông ba lá và pơ-mu.

Trên các đỉnh và sườn núi cao xuất hiện rừng lùm gồm các loài nam trúc Trung bộ, nam trúc lá xoan và trúc. Rừng lá kim chiếm ưu thế bởi thông ba lá, có diện tích trên 10.600 ha. Một phần đáng kể của Vườn quốc gia là rừng tre nứa có loài lồ ô, le. Một số loài cây quí hiếm như giáng hương, trầm hương, bách xanh. Có những họ giữ vai trò quan trọng như họ dầu, họ bằng lăng, họ mộc lan, xoan, đào lộn hột, dẻ, bàng, tràm...
  Your Ad Here
Trong số loài thực vật được tìm thấy ở đây có trên 300 loài có thể dùng trong y dược ở mức độ khác nhau. Số lượng cây thuốc tập trung nhiều ở các họ như họ cúc, ngũ gia bì, bạc hà, họ cà phê, họ đậu...

Vườn quốc gia Chư Yang Sin nằm trong vùng chim đặc hữu cao nguyên Đà Lạt. Đã tìm thấy 8 loài chim gồm gà tiền mặt đỏ, khướu đầu đen, khướu đầu đen má xám, khướu mun, khướu mỏ dài, mi núi Bà, sẻ họng vàng, chích chạch má xám. Đáng chú ý là loài mi núi Bà, là giống chim đặc hữu của vùng cao nguyên Đà Lạt gần như sắp bị tuyệt chủng. Khu bảo tồn

Tổng cộng có 203 loài chim và 46 loài thú được ghi nhận tại Vườn quốc gia. Quan trọng nhất là các loài thú cần được bảo tồn tại Vườn quốc gia là voọc vá chân đen và vượn má hung. Vườn quốc gia Chư Yang Sin có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ vùng rừng đầu nguồn thuộc thượng nguồn hệ thống sông Srêpok và vùng rừng giáp với tỉnh Lâm Đồng.

Muốn đến tham quan, du lịch Vườn quốc gia, du khách đi theo Quốc lộ 27 từ Đà Lạt hay từ Buôn Ma Thuột đến thị trấn Liên Sơn, huyện lỵ của huyện Lak, tại đây có đường mòn dẫn đến chân núi Chư Yang Sin dài trên 20 km. Chư Yang Sin có những cảnh quan thơ mộng và hoang dã của rừng ôn đới và á nhiệt đới và có lắm thác ghềnh đầy ấn tượng. Hy vọng trong tương lai, Vườn quốc gia Chư Yang Sin sẽ là một địa chỉ du lịch sinh thái, du lịch mạo hiểm và du lịch thể thao hấp dẫn trên địa bàn Đắk Lắk.

Du lịch, GO! - Theo Viettraveltips

Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2011

Lũy Thầy

Luỹ Thầy (còn gọi là luỹ Đào Duy Từ) gắn liền với nhà quân sự tài ba Đào Duy Từ. 
Ông là người xã Hoa Trai, huyện Tỉnh Gia, tỉnh Thanh Hóa. Luỹ Thầy được ông hiến kế xây dựng bằng tất cả tài năng và tâm huyết của mình, nó là một hệ thống thành luỹ mang tính chất phòng ngự được hình thành trong cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn (thế kỷ XVII- XVIII)
Người Quảng Bình, từ người dân quê đến nhà nho học thuở xưa, không mấy ai không biết đến câu ca dao:

"Luỹ Thầy ai đắp mà cao
 Sông Gianh ai bới ai đào mà sâu"
Luỹ Thầy gồm các luỹ: Trường Dục, Nhật Lệ, Trường Sa thuộc thành phố Đồng Hới và huyện Quảng Ninh.

Phòng tuyến Trường Dục

Được xây dựng vào năm 1630, bắt đầu từ núi Thần Đinh men theo bờ sông Long Đại, qua các làng Xuân Dục, Trường Dục, Cổ Hiền vòng xuống đến làng Bình Thôn, Quảng Xá băng ra đến đầu phá Hạc Hải. Luỹ được đắp bằng đất sét dài 10km, cao 3m, chân luỹ rộng 6m.

Luỹ được xây dựng theo kiến trúc chữ Hồi, có tác dụng ngăn chặn quân Trịnh đánh phá phía Đàng Trong.

Phòng tuyến Nhật Lệ

Sau khi đắp xong luỹ Trường Dục, đến năm 1631 chúa Nguyễn lại tiếp tục cho xây luỹ Nhật Lệ. Luỹ cao 1 trượng 5 thước (6m), dài hơn 3000 trượng (12km), ngoài được đóng cọc bằng gỗ lim. Luỹ Nhật Lệ được chia làm hai đoạn: Đoạn thứ nhất chạy từ núi Đầu Mâu về Cầu Dài, thiết lập ở bờ nam sông Long Đại. Đoạn thứ hai từ Cầu Dài chạy về đến cửa Nhật Lệ. Luỹ nay thuộc địa phận huyện Quảng Ninh, các xã Phú Hải, Đồng Phú, Hải Thành (thành phố Đồng Hới).

  Your Ad Here

Lũy Trường Sa

Được xây dựng vào năm 1633, sử cũ không nói rõ luỹ này dài bao nhiêu trượng, cao rộng bao nhiêu thước mà chỉ nói là luỹ chạy dọc theo ven biển xã Bảo Ninh (thành phố Đồng Hới), từ cửa biển Nhật Lệ cho đến xã Hải Ninh (huyện Quảng Ninh).

Trên chiều dài 3000 trượng (12km) của luỹ từ Đầu Hâu đến cửa Nhật Lệ hiện nay chỉ còn lại 3 cửa: Cửa Tấn Nhật Lệ; Cửa Lý chính Đại quan môn, sau đổi là Võ Thắng Quan, còn gọi là cổng Thượng; Cửa vào Dinh Quảng Bình còn gọi là Quảng Bình Quan.

Cùng kết hợp với ba phòng tuyến trên, Quảng Bình Quan được xây dựng nhằm tăng cường thêm sức mạnh cho phòng tuyến, giao thông đi lại cho nhân dân trong thành. Quảng Bình Quan được vua Minh Mạng cho xây dựng lại bằng gạch đá vào năm 1825. Cổng có kích thước dài 2 trượng 1 thước (8,4m), rộng 2 trượng 5 thước (10m), cao 5 thước (2m), thành ngoài hộ vệ cửa quan dài 14 trượng 6 thước (58,4m), cao 3 thước (1,2m). Ngày nay Quảng Bình Quan đã được trùng tu tôn tạo lại đẹp đẽ, uy nghi ngay cạnh quốc lộ 1A cách Cầu Dài chừng vài trăm mét về phía Bắc.

Trong suốt cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn, luỹ Đào Duy Từ phải chống đỡ với rất nhiều cuộc tấn công của quân Trịnh, nhưng chưa bao giờ bị thất thủ mà ngược lại đã giáng cho quân Trịnh nhiều đòn đau. Năm 1633 Trịnh Tráng kéo quân đến cửa biển Nhật Lệ dàn trận đánh quân Nguyễn, bị quân Nguyễn đánh cho tơi bời, quân Trịnh vứt bỏ xe pháo mà chạy không dám ngoái đầu lại. Năm 1648 quân Trịnh tấn công quân Nguyễn tại luỹ Trường Dục nhưng chẳng những không đạt được mục đích của mình mà còn thiệt hại nghiêm trọng: 3000 lính cùng với 3 tướng lĩnh cao cấp bị bắt làm tù binh (l). Đến năm 1672 quân Trịnh với lực lượng hùng hậu đã tiến đánh vào luỹ Nhật Lệ và đây là lần giao tranh ác liệt nhất trong lịch sử cuộc nội chiến với 6 lần liên tục tấn công vào mặt luỹ nhưng vẫn không được. Cuối cùng quân Trịnh phải ôm hận rút lui và không cách nào hạ được luỹ.

Với những giá trị về lịch sử và kiến trúc quân sự, luỹ Đào Duy Từ đã được Nhà nước công nhận là di tích Quốc gia.

Hiện nay, tuy luỹ Đào Duy Từ không còn nguyên vẹn như dáng vẻ ngày xưa, thậm chí có nhiều đoạn đã bị mất hoàn toàn do thời gian bào mòn và chiến tranh tàn phá, nhưng vẫn có một số đoạn còn lưu giữ được đấu tích, rõ nét nhất là đoạn luỹ sát cửa sông Nhật Lệ hiện còn vết tích là một gò cao, cây cối mọc xanh tươi, góp phần tạo cảnh quan cho thị xã; hay đoạn luỹ Trường Dục ngày nay đã được nhân dân trồng cây chắn gió góp phần hạn chế thiên tai.

Đến với Quảng Bình ngày nay du khách có thể qua những dấu tích đó để phần nào hình dung được dáng vẻ xưa của nó và chiêm nghiệm được những điều mà sử sách đã ghi chép. Du khách sẽ có điều kiện tìm hiểu kỹ hơn về một công trình kiến trúc quân sự, một tuyến phòng thủ có quy mô lớn nhất trong lịch sử thời phong kiến nước ta. Nó cũng thể hiện được một tài năng quân sự, một tầm nhìn chiến lược của nhà quân sự tài ba Đào Duy Từ.

Cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn đã lùi xa hơn ba thế kỷ, luỹ Đào Duy Từ cũng có nhiều đoạn hiện mất dấu xưa, nhưng những ảnh hưởng, những vết tích văn hóa của thời kỳ đó vẫn đang còn tồn tại trên đất Quảng Bình. Điều đó được thể hiện qua một số 1ễ hội hiện có tại đây như: Lễ hội cướp cù ở làng Trấn Ninh (nay là phường Đồng Phú) vốn là một môn thể thao trong quân lính nhà Nguyễn thời bấy giờ; hay lễ hội bơi trãi hiện nay của cư dân năm làng quanh Đồng Hới cũng vậy, nó vốn có nguồn gốc từ các đội thuỷ quân nhà Nguyễn xưa kia.

Ngày nay luỹ Đào Duy Từ đang cùng với các điểm du lịch khác như động Phong Nha, bãi biển Nhật Lệ, thành Đồng Hới... tạo nên sức thu hút đối với khách du lịch đến tham quan, tìm hiểu và từ đó tạo ra những lợi ích về kinh tế góp phần thúc đẩy cho nền kinh tế du lịch tỉnh nhà ngày một phát triển hơn.

Du lịch, GO! - Theo Du lịch Quảng Bình

Thứ Sáu, 15 tháng 4, 2011

Khám phá Vườn Quốc gia Tràm Chim

Cứ mỗi độ nước lên, vào khoảng từ tháng 8 đến tháng 11 âm lịch, về thăm Vườn Quốc gia Tràm Chim ở huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, du khách lại có dịp tham quan bằng tắc ráng (xuồng máy nhỏ) trên bao la sông nước, bao quanh rừng tràm xanh ngút ngàn cùng hệ động, thực vật phong phú.

< Hệ thực vật nước phong phú ở Vườn Quốc gia Tràm Chim.

Vườn Quốc gia Tràm Chim là khu du lịch sinh thái từ lâu đã nổi tiếng là “ốc đảo xanh” với cảnh quan thiên nhiên đặc trưng cho vùng đất trũng Đồng Tháp Mười. Nơi đây quần tụ rất nhiều loài thực vật, cùng gần 200 loài chim nước, chiếm khoảng một phần tư số loài chim ở Việt Nam, trong đó có nhiều loài chim quý hiếm trên thế giới.


< Sếu đầu đỏ nhảy múa trên trảng cỏ ở Vườn Quốc gia Tràm Chim.

Đặc biệt, nổi tiếng nhất là sếu đầu đỏ - một trong số 15 loài sếu còn tồn tại trên thế giới đang có nguy cơ tuyệt chủng. Tràm Chim là nơi cư trú của khoảng 60% quần thể sếu đầu đỏ, được xem là loài chim cao nhất trong các loại chim bay trên thế giới.

Nhiều con sếu cao đến gần 2m, bộ lông xám mượt, chân và cổ cao, đôi cánh dang rộng khi bay, dáng đi khoan thai, đủng đỉnh. Nó còn được nhận biết vì tiếng kêu to và vang xa hàng 2-3 km. Tiếng kêu độc đáo này do khí quản dài tạo nên hiện tượng cộng hưởng âm thanh, giống như những ống xoắn của kèn trompet.

 Theo các nhà khoa học, loài sếu đầu đỏ đã xuất hiện trên Trái Đất tròn 60 triệu năm, cùng thời với loài bò sát khổng lồ và có mặt ở mọi châu lục. Ngoài sếu đầu đỏ, Vườn Quốc gia Tràm Chim còn có một số loài chim quý như ngan cánh trắng, te vàng, bồ nông, già đãy Java.
Trong quãng thời gian từ cuối tháng 12 đến đầu tháng 5, trên thảm xanh rộng lớn của rừng tràm hiện lên từng đàn sếu bay rợp trời với một cảnh tượng thật ngoạn mục. Đến đây vào thời gian này, du khách còn chứng kiến sếu đầu đỏ hòa cùng các loài chim khác bay về Tràm Chim cư trú trong không gian bao la của trời, của sông nước và rừng tràm. Trên các cành cây hay lững lờ trên mặt nước, hàng trăm loài chim nào là cò, le le, trít, diệc, vịt trời, cồng cộc luôn rộn rịp kiếm ăn.
Ngoài việc là nơi cư trú của hàng trăm loài chim, Vườn Quốc gia Tràm Chim còn lưu giữ những đặc thù thiên nhiên của vùng Đồng Tháp Mười với rừng tràm có tuổi thọ từ 10-18 năm.

Các loài sen trắng, sen hồng, sen nửa trắng nửa hồng, bông súng, lúa trời, năng, lác, rau muống đồng cũng góp phần làm thiên nhiên nơi đây thêm đa dạng.
Đầu năm 1999, Tràm Chim chính thức được Chính phủ công nhận là “Vườn Quốc gia Tràm Chim”. Đây là niềm vui và tự hào lớn của nhân dân Đồng Tháp. Nhiều tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế cũng tài trợ để bảo vệ tràm chim quý hiếm này.

Hàng năm, hàng ngàn lượt khách từ khắp nơi về với Tràm Chim, trong đó du khách quốc tế chiếm khoảng 30%. Tại đây, du khách sẽ được sống trong khung cảnh yên bình, ngắm những đàn sếu bay về vùng đất trũng Đồng Tháp Mười mênh mông trời nước

Theo BAVN

Tràm Chim buổi hoàng hôn